- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với vốn vay và lãi đến ngày 25/5/2021 là 25.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 14/2021/DS-ST Ngày: 27 - 5 - 2021 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Tài;
2. Bà Châu Thanh Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm là thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 174/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 144/2021/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: Lầu 8, số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đ – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần M – Giám đốc Chi nhánh An Giang – Sacombank. (Theo giấy ủy quyền số 1186/2020/GUQ-PL ngày 07 tháng 5 năm 2020).
Địa chỉ: Số 333 Trần Hưng Đạo, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần M: Ông Lê M – Phó phòng giao dịch TT – Chi nhánh An Giang. (Theo giấy ủy quyền ngày 23 tháng 10 năm 2020). (Có mặt).
Địa chỉ: Số 82 Trần Hưng Đạo, thị trấn TT, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Huỳnh P, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ 18, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 10 năm 2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê M trình bày:
Vào ngày 11/4/2018 Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch TT có ký với ông Huỳnh P hợp đồng tín dụng (không áp dụng cho phương thức hạn mức) số LD1810100112. Theo hợp đồng Phòng giao dịch Tri Tôn có cho ông P vay số tiền 20.000.000đ, với các điều kiện thỏa thuận như sau: Thời hạn vay 20 tháng. Mục đích vay tiêu dùng. Kỳ trả lãi vào ngày 10 dương lịch hàng tháng. Lãi suất 24%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, ngày đáo hạn là ngày 12/11/2019. Quá trình giao dịch ông P đã thanh toán số tiền vốn gốc và lãi là 8.400.000đ, tuy nhiên từ tháng 12/2018 đến nay, ông P đã vi phạm nghiêm trọng đến hợp đồng tín dụng để phát sinh nợ quá hạn, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thương lượng nhưng khách hàng vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Số tiền ông P còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 25/5/2021 là 25.944.329đ (Trong đó: Vốn gốc 12.000.000đ, lãi trong hạn 9.296.219đ, lãi quá hạn 4.648.110đ).
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn giải quyết: Buộc ông Huỳnh P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền vốn, lãi là 25.944.329đ và Ngân hàng được tiếp tục tính lãi từ ngày 26/5/2021 cho đến khi ông Huỳnh P trả hết nợ cho Ngân hàng.
- Bị đơn ông Huỳnh P: Không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng tại Tòa án.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Buộc bị đơn ông P trả tổng tiền vốn và lãi suất tính đến ngày 25/5/2021 cho Ngân hàng là 25.944.329đ, lãi suất tiếp tục phát sinh theo hợp đồng và các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm theo hợp đồng đã ký kết. Bị đơn ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Thời điểm các đương sự xác lập hợp đồng hợp đồng tín dụng số LD1810100112 ngày 11/4/2018, nơi cư trú của bị đơn ông Huỳnh P trú tại Tổ 18, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 26 tháng 01 năm 2021, bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên, chưa chuyển hộ khẩu đi nơi khác. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
Về sự vắng mặt của đương sự trong vụ án: Bị đơn ông P đã được Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông P.
[1.3] Về thủ tục ủy quyền: Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ủy quyền cho ông Lê M theo văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 10 năm 2020 là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 86 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Về chứng cứ chứng minh: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án có tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 174/TB-TLVA ngày 14 tháng 12 năm 2020 cùng các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cho bị đơn ông P. Nhưng ông P không cung cấp các tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét, giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu trả vốn vay số tiền 12.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số LD1810100112 ngày 11/4/2018, mục đích vay để tiêu dùng. Thời hạn vay 20 tháng. Kỳ trả lãi vào ngày 10 dương lịch hàng tháng. Lãi suất 24%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, ngày đáo hạn là ngày 12/11/2019. Xét thấy, các đương sự hoàn toàn tự nguyện xác lập hợp đồng tín dụng và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng, phù hợp với quy định tại Điều 116, khoản 1 Điều 119; Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Việc bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia tố tụng là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông P là có thật và hợp pháp.
Quá trình vay vốn ông P có trả tiền vốn là 8.000.000đ, lãi 400.000đ cho Ngân hàng, nhưng tính đến ngày 10/12/2018 thì ngưng không trả vốn, lãi cho đến nay.
Về lãi suất: Căn cứ hợp đồng tín dụng (không áp dụng cho phương thức hạn mức) số LD1810100112 ngày 11/4/2018 thì ông Phúc là người vay đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán làm phát sinh thêm khoản nợ quá hạn nên phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng vốn lãi theo hợp đồng đã ký kết. Số tiền ông P còn nợ Ngân hàng tạm tính từ ngày 10/6/2018 đến ngày 25/5/2021 là 25.944.329đ (Trong đó: Vốn gốc 12.000.000đ, lãi trong hạn 9.296.219đ, lãi quá hạn 4.648.110đ). Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông P trả số tiền vốn, lãi 25.944.329đ (tạm tính đến ngày 25/5/2021) là có căn cứ theo quy định tại Điều 280, Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên được chấp nhận.
Đồng thời, ông P còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LD1810100112 ngày 11/4/2018 đã ký kết với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch TT trên số dư nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 26/5/2021 cho đến khi thanh toán xong nợ của hợp đồng tín dụng trên.
Về ý kiến Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 591.000đ đã nộp theo biên lai thu số: TU/2019/0000588 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
[3.2] Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông P phải chịu 1.297.216đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 86; khoản 4 Điều 91; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 116; khoản 1 Điều 119; Điều 280; Điều 463; khoản 1 Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với vốn vay và lãi đến ngày 25/5/2021 là 25.944.329đ.
[2] Buộc bị đơn ông Huỳnh P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền vốn là 12.000.000đ và tiền lãi phát sinh đến hết ngày 25/5/2021 lãi trong hạn 9.296.219đ, lãi quá hạn 4.648.110đ.
[3] Kể từ ngày 26/5/2021 ông Huỳnh P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số LD1810100112 ngày 11/4/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận điều chỉnh lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh P phải chịu 1.297.216đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S được chấp nhận.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 591.000đ đã nộp theo biên lai thu số: TU/2019/0000588 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
[6] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Tri Tôn; - THA huyện Tri Tôn; - Đương sự (Để thi hành); - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Sơn Thị Thúy Liễu |