vanban.org

Bản án 14/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thân Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị Thanh phải có nghĩa vụ trả nợ 760.

[1.1]. Buộc bà Lê Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho bà Thân Thị H số tiền gốc là 760.000.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi triệu đồng). [1.2]. Bác yêu cầu của bà Lê Thị Th xin trả dần cho bà Thân Thị H mỗi năm 150.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng dân sự"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thân Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị Thanh phải có nghĩa vụ trả nợ 760.
  • Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/DS-ST
Ngày: 16/7/2021
V/v: "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Quyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Hữu Lộc

2. Bà Nguyễn Thị Dung

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường Viên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2021/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2021 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Thân Thị H; sinh năm: 1971 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn V-Tr, xã C-H, huyện Ph-C, tỉnh Bình Định.

* Bị đơn : Bà Lê Thị Th; sinh năm: 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ-Ph1, xã C-M, huyện Ph-C, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 04/5/2021 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Thân Thị H trình bày:

Trong tháng 12/2017 (âm lịch) bà Lê Thị Th có vay của bà 03 lần với tổng số tiền vay là 760.000.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi triệu đồng) với mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/tháng. Thời hạn vay là 01 tháng tính từ ngày vay tiền, bà Th sẽ thanh toán đầy đủ tiền gốc và lãi cho bà. Bà Th nói với bà rằng, bà Th vay số tiền nêu trên là để sử dụng vào mục đích mua bán làm ăn. Cả 03 lần vay, bà Th đều viết, ký vào sổ theo dõi của bà. Tuy nhiên, đến hết thời hạn 01 tháng thì bà Th không trả nợ lãi và nợ gốc nên bà đến nhà đòi nợ. Lúc này bà Th mới nói thật với bà rằng, bà Th vay toàn bộ số tiền nêu trên để sử dụng vào mục đích cho người khác vay lại để hưởng tiền lãi chênh lệch. Do những người vay tiền của bà Th đều bỏ đi biển nên bà Th chưa đòi được để trả lại cho bà. Đồng thời, bà Th viết gộp cả 03 lần vay vào một tờ giấy, sau đó gạch xóa, hủy bỏ các khoản nợ ghi trong sổ theo dõi của bà. Sau nhiều lần đòi nợ nhưng bà Th không trả, ngày 05/9/2020 AL, bà Th tiếp tục viết một giấy nợ khác, hẹn đến tháng 12/2020 sẽ trả dần cho bà 50.000.000 đồng tiền gốc, hủy bỏ giấy nợ cũ, nhưng sau đó bà Th cũng không trả. Tính đến thời điểm hiện nay, bà Th vẫn còn nợ của bà 760.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi từ ngày vay đến nay.

Nay bà khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho bà 760.000.000 đồng tiền gốc. Bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết tiền lãi từ ngày vay cho đến nay.

* Tại các biên bản lấy lời khai ngày 09/6/2021, ngày 11/6/2021 và các lời khai tiếp theo, bị đơn bà Lê Thị Th trình bày:

Trong tháng 10/2017 (AL) bà có vay của bà H nhiều lần tiền, (bà không nhớ cụ thể, chính xác là vay bao nhiêu lần) với tổng số tiền gốc là 360.000.000 đồng. Lãi suất các lần vay do hai bên thỏa thuận là 30%/tháng; Thời hạn vay hai bên không thỏa thuận cụ thể, nhưng cứ 10 ngày thì bà phải trả cho bà H 01 lần tiền lãi. Bà vay số tiền nêu trên là để sử dụng vào mục đích cho ngư dân các xã C-M, C-Kh, huyện Phù Cát vay lại, làm tổn (vốn) đi biển với mức lãi suất 36%/tháng, bà được hưởng tiền lãi chênh lệch 6%. Các lần vay tiền bà đều viết, ký ghi nhận nợ vào sổ theo dõi của bà H.

Sau khi vay bà trả lãi cho bà H được 04 tháng thì không có khả năng trả lãi nữa vì những người vay tiền của bà đi làm biển bị thua lỗ, họ không trả lãi cho bà nên bà cũng không có tiền để trả lãi cho bà H. Sau đó bà H đưa giang hồ đến nhà bà đòi nợ, gây sức ép buộc bà phải viết giấy nợ mới cộng gộp nợ gốc và nợ lãi thành 760.000.000 đồng; đồng thời xóa bỏ các giấy nợ cũ. Bà thừa nhận "Giấy mượn tiền" ghi ngày 05/9/2020 mà bà H photocopy cung cấp cho Tòa án là do bà viết và ký. Thực tế, trong số nợ 760.000.000 đồng nêu trên chỉ có 360.000.000 đồng tiền gốc và 400.000.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, bà không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh mức lãi suất vay 30%/tháng, số tiền lãi đã trả cũng như trong số nợ 760.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 05/9/2020 có 400.000.000 đồng tiền lãi. Do đó, bà chấp nhận hiện nay còn nợ bà H 760.000.000 đồng và không yêu cầu Tòa án xem xét điều chỉnh lãi suất theo quy định của pháp luật.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu bà phải có nghĩa vụ trả 760.000.000 đồng tiền gốc, không yêu cầu tính lãi thì ý kiến của bà như sau: Mặc dù trong số nợ này có 400.000.000 đồng tiền lãi nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh nên bà chấp nhận xem toàn bộ số nợ trên là nợ gốc và chấp nhận trả nợ cho bà H. Tuy nhiên, hiện nay bà đã bị vỡ nợ, không có khả năng trả nợ 01 lần nên bà xin trả dần cho bà H mỗi năm 150.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

* Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cung cấp:

- Bản photocopy "Giấy mượn tiền" ghi ngày 05/9/2020.

- Bản sao chứng minh nhân dân của nguyên đơn bà Thân Thị H và các giấy tờ, tài liệu liên quan đến quyền nhân thân của người khởi kiện;

* Tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp:

Bị đơn bà Lê Thị Th không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

* Tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được:

- Biên bản ghi lời khai của bà Thân Thị H vào ngày 26/5/2021;

- Biên bản ghi lời khai của bị đơn bà Lê Thị Th vào ngày 09/6/2021, ngày 11/6/2021;

- Biên bản đối chất lời khai giữa chị Thân Thị H và bà Lê Thị Th vào ngày 28/6/2021.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

. Nguyên đơn bà Thân Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Lê Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho bà Hạnh 760.000.000 đồng tiền gốc phát sinh từ hợp đồng vay tài sản xác lập nhiều lần trong tháng 12/2017 (AL), không yêu cầu tính lãi từ ngày vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, kèm theo đơn khởi kiện, bà H cung cấp cho Tòa án bản sao "Giấy mượn tiền" ghi ngày 05/9/2020 (AL).

. Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Lê Thị Th đều thừa nhận hiện nay bà còn nợ bà H 760.000.000 đồng, "Giấy mượn tiền" nêu trên là do bà viết và ký. Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà Th thì thời điểm xác lập giao dịch vay tiền giữa bà với bà H không phải vay 03 lần trong tháng 12/2017 (AL) như nguyên đơn trình bày. Thực tế, trong tháng 10 năm 2017 (AL) bà vay tiền của bà H rất nhiều lần, nhưng bà không nhớ chính xác vay bao nhiêu lần, số tiền từng lần vay. Bà chỉ nhớ tổng số tiền gốc đã vay của bà H là 360.000.000 đồng. Lãi suất các lần vay hai bên thỏa thuận cùng mức là 30%/tháng; thời hạn vay không thỏa thuận cụ thể. Các lần vay tiền của bà H, bà đều ghi nợ vào sổ theo dõi của bà H. Sau khi vay, theo thỏa thuận thì cứ cách nhau 10 ngày bà phải trả lãi cho bà H 01 lần, trả lãi trong khoảng thời gian 04 tháng thì không còn khả năng trả lãi nữa do những người vay tiền của bà đi làm biển, đánh bắt bị thua lỗ, họ không trả lãi cho bà nên bà không có tiền để trả lãi cho bà H. Sau nhiều lần đòi nợ không được, bà H đưa giang hồ đến nhà đe dọa, buộc bà cộng gộp cả gốc và lãi thành 760.000.000 đồng và buộc bà phải viết "Giấy mượn tiền" ghi ngày 05/9/2020. Như vậy, trong số nợ 760.000.000 đồng chỉ có 360.000.000 đồng tiền gốc, còn lại 400.000.000 đồng là tiền lãi. Tại phiên tòa, bà Th thay đổi lời khai, bà cho rằng số tiền 400.000.000 đồng nêu trên không phải là nợ lãi tính từ ngày vay đến ngày 30/01/2018 (AL). Vì đến thời điểm tháng 01/2018 (AL) bà đã vỡ nợ, không có khả năng để tiếp tục trả lãi nên giữa bà với bà H thỏa thuận: trong thời hạn 12 tháng tính từ ngày 30/01/2018 (AL) bà sẽ trả lãi cho bà H 400.000.000 đồng nên bà viết giấy nợ mới, cộng khoản tiền này vào nợ gốc thành 760.000.000 đồng.

Xét toàn bộ nội dung lời trình bày phản bác của bà Th nêu trên không được phía nguyên đơn thừa nhận, bà Th cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Tại biên bản đối chất lời khai ngày 28/6/2021, giải thích về nội dung "Giấy mượn tiền" do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, phần đầu của văn bản này ghi rõ: "Hôm nay ngày 30/01/2018 A lịch, tôi có mượn số tiền của bà H với số tiền là 760.000.000 đồng ....", nhưng ở mục người vay tiền lại ghi thời gian viết giấy mượn tiền "Cát Minh ngày 05//9/2020" thì nguyên đơn bà H khẳng định: Trong tháng 12/2017 (AL), bà Th vay của bà 03 lần với tổng số tiền là 760.000.000 đồng, mức lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng, thời hạn vay thỏa thuận là 01 tháng. Các lần vay bà Th đều ghi nhận nợ vào sổ theo dõi của bà. Đến thời hạn cam kết trả nợ, bà Th không trả nợ gốc và tiền lãi nên bà đến nhà đòi nợ. Ngày 30/01/2018 (AL) bà Th viết giấy nợ mới, gộp cả 03 lần vay với tổng số tiền vay là 760.000.000 đồng; đồng thời gạch xóa, hủy bỏ trang giấy ghi nợ trong sổ theo dõi của bà. Sau nhiều lần đòi nợ và khất nợ, ngày 05/9/2020 bà Th tiếp tục viết giấy nợ mới, hẹn đến tháng 12/2020 sẽ trả cho bà 50.000.000 đồng và hủy bỏ giấy nợ cũ. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà Th cũng không trả nợ nên bà khởi kiện đến Tòa án. Lời trình bày trên của bà H là có cơ sở, có tính logic xâu chuỗi các sự kiện đã xảy ra và hợp lý về trình tự thời gian. Vì vậy, "Giấy mượn tiền" ghi ngày 05/9/2020 do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là tài liệu, chứng cứ duy nhất để khẳng định, số tiền 760.000.000 đồng nêu trên là tiền gốc mà bà Th đã vay của bà H. Tòa án không có căn cứ để xem xét điều chỉnh tiền lãi đã trả và 400.000.000 đồng mà bị đơn cho rằng, đó là số tiền lãi được cộng gộp vào nợ gốc.

Xét nội dung khởi kiện của bà H yêu cầu bà Th phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ gốc 760.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Còn việc bà H không yêu cầu bà Thanh trả tiền lãi từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm là quyền tự nguyện cam kết, thỏa thuận và tự định đoạt tài sản của nguyên đơn, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3, Điều 158 của Bộ luật dân sự nên Tòa án chấp nhận.

. Về phương thức, thời gian trả nợ: Bà H yêu cầu bà Th phải có nghĩa vụ trả 760.000.000 đồng dứt điểm một lần. Bị đơn bà Th cho rằng, mặc dù trong số nợ 760.000.000 đồng có 400.000.000 đồng tiền lãi, nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên bà chấp nhận xem toàn bộ số nợ trên là nợ gốc và chấp nhận trả nợ cho bà H, không yêu cầu Tòa án xem xét điều chỉnh tiền lãi theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì lý do khách quan, những người vay tiền của bà để làm tổn (vốn) đi biển không trả nợ nên bà không có khả năng thanh toán nợ 01 lần cho bà H. Bà Th xin trả dần số tiền trên mỗi năm trả 150.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Phương thức xin trả dần của bà Th không được phía nguyên đơn chấp nhận.

Xét hợp đồng vay tài sản giữa bà H và bà Th là hợp đồng vay có lãi suất và có kỳ hạn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự, khi đến hạn trả nợ, bên vay phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền gốc và tiền lãi cho bên cho vay. Trong vụ án này, nguyên đơn bà H tự nguyện không yêu cầu trả nợ lãi, chỉ yêu cầu trả nợ gốc 760.000.000 đồng dứt điểm 01 lần là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận; đồng thời, xét bác yêu cầu xin trả dần của bị đơn là phù hợp.

. Từ những nhận nhận định trên, HĐXX xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Lê Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho bà Thân Thị H 760.000.000 đồng dứt điểm một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí DSST: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV, bà Lê Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX; việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đồng thời, ý kiến của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, các Điều 264, 266, 267, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự - 2015.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thân Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị Thanh phải có nghĩa vụ trả nợ 760.000.000 đồng.

[1.1]. Buộc bà Lê Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho bà Thân Thị H số tiền gốc là 760.000.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi triệu đồng).

[1.2]. Bác yêu cầu của bà Lê Thị Th xin trả dần cho bà Thân Thị H mỗi năm 150.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

[2]. Quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự:

[2.1]. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành chưa đầy đủ số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự (10%/năm) tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

[2.2]. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

[3]. Án phí DSST:

[3.1]. Bà Lê Thị Th phải chịu 34.400.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[3.2]. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định hoàn trả lại cho bà Thân Thị H 17.920.000 đồng (Mười bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011070 ngày 26/5/2021.

[4]- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ