vanban.org

Bản án 14/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bà Tăng Thị Kim C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín do Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tổng cộng vốn lãi 18.965.810 đồng (mười tám triệu chín trăm sáu mươi lăm ngàn tám trăm mười đồng). Bà Tăng Thị Kim C còn phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 14/2021/DS-ST
Ngày: 25/02/2021
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hòa

2. Ông Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2020/TLST-DS ngày 30/10/2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-DS ngày 04/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/QĐST-DS ngày 27/01/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Trụ sở chính: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn B, chức vụ: Phó phòng giao dịch Phú Hòa Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh An Giang.

- Bị đơn: Bà Tăng Thị Kim C, sinh năm 1993

Địa chỉ: ấp Tây Bình, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông B có mặt. Bị đơn bà C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1826900544 ký ngày 26/9/2018 giữa ngân hàng cố phần Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh An Giang – phòng giao dịch Phú Hòa với bà Tăng Thị Kim C. Theo đó ngân hàng có cho bà C vay vốn với tổng số tiền là 20.000.000 đồng, mục đich vay là tiêu dùng, lãi suất 24%/năm, phương thức trả nợ là trả vốn và lãi hàng tháng, tài sản bảo đảm tín chấp. Từ khi vay bà C đã thanh toán cho ngân hàng được tổng cộng vốn lãi là 11.602.872 đồng (trong đó tiền vốn là 8.330.000 đồng, tiền lãi là 3.272.872 đồng). Từ tháng 06/2020 cho đến nay bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần

Nay ông Nguyễn Văn Bền yêu cầu bà Tăng Thị Kim C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S do Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tổng cộng vốn lãi tạm tính đến ngày 23/02/2021 là 18.965.810 đồng (trong đó tiền vốn là 11.670.000 đồng, lãi trong hạn 2.104.692 đồng, lãi qua hạn 4.456.599 đồng, lãi phạt quá hạn 734.520 đông). Ngoài ra yêu cầu bà C phải chịu lãi suất phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1826900544 ký ngày 26/9/2018 kể từ ngày 24/02/2021 cho đến khi trả hết nợ và chịu toàn bộ án phí và các chi phí có liên quan.

Tại phiên tòa ông B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Về phía bị đơn bà Tăng Thị Kim C: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà C nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay bà C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý và giải quyết đúng theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên cần xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng mới chính xác do đây là tranh chấp giữa một bên là tổ chức tín dụng hoạt động theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và một bên là cá nhân (không điều chỉnh lãi suất).

Quá trình thụ lý hồ sơ Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng nên đã từ bỏ quyền của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bị đơn Tăng Thị Kim C có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền tổng cộng vốn lãi là 18.956.810 đồng.

Bà C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ giấy đăng ký vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số: LD 1826900544 ngày 26/9/2018 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Phú Hòa với bà Tăng Thị Kim C thể hiện nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Phú Hòa có cho bà C vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay là tiêu dùng nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện và biên bản xác minh về việc đăng ký thường trú ngày 01/10/2020 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn bà Tăng Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C.

Về nội dung: Theo giấy đăng ký vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số: LD 1826900544 ngày 26/9/2018 do Ngân hàng thương mại cổ phần S cung cấp có đủ cơ sở để xác định bà Tăng Thị Kim C có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Phú Hòa số tiền là 20.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay để tiêu dùng, lãi suất là 24%/năm. Theo nguyên đơn thì từ khi vay đến nay bà C chỉ trả được tiền vốn 8.330.000 đồng và tiền lãi 3.272.872 đồng, số còn lại đến nay vẫn chưa thanh toán. Hội đồng xét xử xét thấy, giao địch giữa ngân hàng và bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung các bên ký kết không trái với quy định của pháp luật do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc bà C vay tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu bà C trả tiền tổng cộng vốn lãi là 18.965.810 đồng (trong đó tiền vốn 11.670.000, tiền lãi 7.295.810 đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Khoản 2 Điều 91, Điều 94 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bà Tăng Thị Kim C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín do Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tổng cộng vốn lãi 18.965.810 đồng (mười tám triệu chín trăm sáu mươi lăm ngàn tám trăm mười đồng).

Bà Tăng Thị Kim C còn phải chịu lãi phát sinh theo giấy đăng ký vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số: LD 1826900544 ngày 26/9/2018 kể từ ngày 24/02/2021 cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí:

Bà Tăng Thị Kim C phải chịu 948.290 đồng (chín trăm bốn mươi tám ngàn hai trăm chín mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm

Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí nên được hoàn lại 397.173 đồng (ba trăm chín mươi bảy ngàn một trăm bảy mươi ba đồng) do Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh An Giang đại diện nhận tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007983 ngày 301/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Tăng Thị Kim C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản tại nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ