vanban.org

Bản án 14/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Tuyên án 25/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn E về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1977 là người mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ định ông Nguyễn Văn E (Anh ruột ông Nguyễn Văn C) là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Văn Em - Nguyễn Văn Chính"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn E về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI -TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:14/2020/QĐST - DSBình Đại, ngày 25 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Phương

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Thái Dương, Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 398/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Nguyễn Văn E, sinh năm: 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1965 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T.

2. Nguyễn Văn B, sinh năm: 1966 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T.

Địa chỉ hiện nay: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh G.

3. Nguyễn Văn N, sinh năm: 1967 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh G.

4. Nguyễn Thị T, sinh năm: 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện Đ, tỉnh T.

5. Nguyễn Hữu I, sinh năm: 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 6, xã B, huyện Đ, tỉnh T.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

*Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đề ngày 29/7/2020, biên bản làm việc ngày 16/11/2020 và tại phiên họp hôm nay, ông Nguyễn Văn E trình bày:

Cha ông là ông Nguyễn Văn C, mẹ là bà Nguyễn Thị T. Cha mẹ ông đều đã chết. Ông C và bà T chung sống có tất cả 08 người con chung gồm ông Nguyễn Văn K (Đã chết), Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn E, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Hữu I và ông Nguyễn Văn C. Ông C là em út bị bệnh từ lúc sinh ra đến nay do bị ảnh hưởng chất độc da cam vì cha ông trước đây có tham gia cách mạng và ở tù ngoài Côn Đảo. Ông C nói không tròn chữ, ăn uống đi lại bình thường, không phá phách, tối ngày lụm lá dừa về chuốc, tới giờ cơm thì ăn cơm, ban đêm phải cột chân lại để không đi, hút thuốc nhiều, ông C không có vợ con. Sau khi cha mẹ ông chết, ông C sống chung với ông, ông là người trực tiếp chăm sóc và nhận tiền trợ cấp của Nhà nước để nuôi dưỡng ông C, các anh chị em ruột ông đều đã có gia đình sống riêng. Ông hiện đang ở nhà thờ, thờ cúng ông bà, cha mẹ ông và nuôi ông C. Do mẹ ông chết không có để lại di chúc cho ai, mẹ ông vẫn còn đại diện hộ đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các anh chị em trong gia đình đã thỏa thuận làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với di sản là quyền sử dụng đất mà mẹ ông là bà Nguyễn Thị T đại diện hộ đứng tên sang cho ông đứng tên sở hữu nhưng do em trai ông là Nguyễn Văn C bị bệnh nên không làm được thủ tục chuyển quyền đối với di sản thừa kế. Do đó, ông E yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn C, em ruột ông mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời cử ông là người giám hộ hợp pháp cho ông C để ông cùng các anh chị em làm các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế của mẹ ông cho ông đứng tên sở hữu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp hôm nay ông E vẫn giữ yêu cầu như trong đơn yêu cầu mà ông đã nêu.

* Tại các biên bản làm việc ngày 25/11/2020, 11/12/2020, 16/12/2020 các anh chị em ruột còn sống của ông Nguyễn Văn E, ông Nguyễn Văn C là ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Hữu I đều khai thống nhất ông Nguyễn Văn C không có vợ con, đồng ý để ông E là người giám hộ hợp pháp cho ông C theo quy định của pháp luật vì hiện nay ông E là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ông C. Tất cả các anh chị em trong gia đình đều đồng ý với yêu cầu của ông E, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn C mất năng lực hành vi dân sự để các anh chị em trong gia đình làm các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế của mẹ là bà Nguyễn Thị T cho ông E đứng tên sở hữu theo quy định của pháp luật để thờ cúng ông bà, cha mẹ và nuôi dưỡng ông C bị bệnh.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến tại phiên họp: Đề nghị áp dụng Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn E. Tuyên bố ông Nguyễn Văn C mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Hữu I đều có yêu cầu được giải quyết vắng mặt tại phiên họp thể hiện tại các biên bản làm việc ngày 25/11/2020, 11/12/2020, 16/12/2020 (Bút lục số 50 – 52, 55 – 56), những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời trình bày đầy đủ, rõ ràng nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết tại phiên họp. Tòa án vẫn tiến hành phiên họp là phù hợp, đúng quy định theo khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn E yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn C (Em ruột ông E) mất năng lực hành vi dân sự.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 716/KL-VPYTW ngày 08/12/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Về y học:

+ Hiện nay: Ông Nguyễn Văn C bị bệnh Chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72 – ICD.10)/Hội chứng Down.

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Hiện nay: Ông Nguyễn Văn C mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Do đó, xác định ông Nguyễn Văn C (Em ruột ông Nguyễn Văn E) là người mất năng lực hành vi dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật theo Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên yêu cầu của ông Nguyễn Văn E là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.

Chỉ định người giám hộ cho ông Nguyễn Văn C:

Do ông Nguyễn Văn C là người mất năng lực hành vi dân sự nên cần phải chỉ định người giám hộ cho ông C theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật dân sự năm 2015. Các anh chị em ruột của ông E và ông C đều khai thống nhất ông Nguyễn Văn C không có vợ con, cha mẹ ruột ông C đều đã chết. Ông C hiện nay đang sống chung với ông Nguyễn Văn E (Anh ruột ông C), ông E là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng ông C nên được công nhận, không cần xác minh. Các anh chị em ruột của ông E và ông C đều thống nhất chỉ định ông E là người giám hộ cho ông C. Ông E là người có đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông C theo Điều 49 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 88, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 54, Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ định ông Nguyễn Văn E (Anh ruột ông Nguyễn Văn C) là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn C. Ông E có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với ông C theo quy định của pháp luật tại Điều 57, 58, 59 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ông E không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.

Chi phí giám định: Ông E là người tự thực hiện các thù tục giám định sau khi Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định và tự trả các chi phí giám định cho cơ quan giám định, các chi phí này ông E là người yêu cầu phải chịu.

Lệ phí giải quyết việc dân sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông E phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 49, Điều 54, 57, 58, 59, 136 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 88; khoản 2 Điều 369, khoản 3 Điều 367; Điều 376, 377, 378, 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn E về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Tuyên bố ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1977 là người mất năng lực hành vi dân sự.

3.Chỉ định ông Nguyễn Văn E (Anh ruột ông Nguyễn Văn C) là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn C.

Ông Nguyễn Văn E có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho ông Nguyễn Văn C theo quy định của pháp luật.

4. Ông Nguyễn Văn E phải chịu toàn bộ chi phí giám định và đã thực hiện xong.

5. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Văn E phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông E đã nộp theo biên lai thu số 0002070 ngày 29/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy lệ phí ông E đã nộp đủ.

Ông Nguyễn Văn E có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ