vanban.org

Bản án 14/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 11/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm c, đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Đ đánh người nhà - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ TUY HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 14/2020/HSST
Ngày: 11/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Trọng Khá và bà Phan Thị Oanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2020/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Quốc Đ (tên gọi khác: Xị), sinh năm 1996; Nơi ĐKHKTT: khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: khu phố N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Lê Văn D, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1973; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 17/10/2019 bị Công an phường 7 xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh người; Nhân thân: - Ngày 24/01/2013 bị Công an phường 7 xử phạt 75.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng; - Ngày 26/7/2013 bị Ủy ban nhân dân phường 7 ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường trong thời hạn 06 tháng từ 26/7/2013 đến 26/01/2014; - Ngày 10/4/2017 bị Công an thành phố Tuy Hòa xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi đánh người gây thương tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/12/2019. Có mặt tại phiên tòa

Bị hại: Lê Văn D, sinh năm 1970; trú tại: khu phố N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa

Người làm chứng:

- Phạm Thị T, sinh năm 1973; trú tại: khu phố N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa

- Lê Phạm Quỳnh A, sinh ngày 07/7/2006; Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn D – sinh năm 1970 và bà Phạm Thị T – sinh năm 1973 (là cha mẹ ruột); đồng trú tại: khu phố N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc Đ không có nghề nghiệp, thường xuyên uống rượu bia rồi đánh đập người thân trong gia đình, cư xử bất hiếu với cha mẹ, đã được chính quyền địa phương giáo dục nhiều lần nhưng vẫn không sửa đổi. Vào các ngày 22/10/2019 và 09/11/2019, Lê Quốc Đ uống rượu say, về nhà đánh cha ruột là ông Lê Văn D gây thương tích, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: vào khoảng 22 giờ ngày 22/10/2019, Lê Quốc Đ đi nhậu về nhà. Lúc này cả nhà đang ngủ trên phòng khách, Đ lấy ấm điện đầu giường nơi ông D đang ngủ để nấu nước gây ồn ào làm ông D tỉnh dậy và hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi vã xô xát. Sau đó ông D chạy ra trước sân lấy đoạn cây gỗ kích thước (2x4,5x50)cm chạy vào nhà định dọa đánh Đ thì bị Đ giật được đoạn cây gỗ trên và dùng tay phải đẩy người ông D về phía sau, ép sát vào thành tivi. Tiếp đó, Đ dùng tay trái cầm cây gỗ đánh liên tiếp 02 cái trúng vào vùng trán phải và vùng vai phải của ông D gây thương tích.

Vụ thứ hai: khoảng 17 giờ 00 ngày 09/11/2019, Đ đang ở nhà, thấy ông D đi nhậu về thì Đ chủ động đến gây sự với ông D nên hai bên xảy ra cãi vã. Sau đó ông D bỏ đi ra sau nhà để đi vệ sinh. Đ đi theo ngăn cản, không cho ông D vào nhà vệ sinh. Đ dùng tay xô mạnh ông D, làm ông bị ngã ngửa người về phía sau làm khuỷu tay trái bị thương tích. Liền sau đó, Đ tiến đến, dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng ngực của ông Đ rồi bỏ đi vào nhà. Ông D lúc này định vào nhà vệ sinh thì Đ tiếp tục đi đến ngăn cản không cho ông D vào nhà vệ sinh. Đ dùng tay trái, đấm 01 cái trúng vào miệng ông D làm gãy 01 cái răng rồi bỏ đi. Ông D được bà T đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Tại các bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 353/TgT và 354/TgT ngày 27/11/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: tỷ lệ thương tích của ông Lê Văn D là 03% và 11%.

Vật chứng vụ án:

Tạm giữ chờ xử lý: 01 đoạn gỗ màu xanh dương, kích thước (2x4,5x50)cm

Về dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 19/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Lê Quốc Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/12/2019. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xét. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 đoạn cây gỗ. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

- Bị hại không yêu cầu bồi thường và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội và phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy đủ cơ sở để kết luận: vào các ngày 22/10/2019 và 09/11/2019, tại khu phố N, phường B, thành phố T, Lê Quốc Đ đã có hành vi đánh cha ruột là ông Lê Văn D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% và 11%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 19/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh người gây thương tích và gây rối trật tự công cộng. Bản thân bị cáo là thanh niên trong độ tuổi lao động nhưng lại không chịu làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình mà thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà gây sự, đánh cha mẹ, em gái. Mặc dù đã được chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở, giáo dục nhưng bị cáo không chịu lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, liên tiếp hai lần đánh cha ruột gây thương tích là thể hiện sự coi thường pháp luật, xem nhẹ tính mạng, sức khỏe người khác, đặc biệt là thể hiện sự bất hiếu đối với chính người sinh thành, nuôi dưỡng mình. Vì vậy, xét cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn cây gỗ vì không có giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm c, đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/12/2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gỗ màu xanh dương, kích thước (2x4,5x50)cm có đóng đinh hai đầu (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ