- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Ph và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm a khoản 2, 5 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lê Thị Ph;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14 /2020/HSST Ngày 17/02/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Thành
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hương
Ông Phạm Văn Huấn
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh, Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lương Văn Bình – Kiểm sát viên .
Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/TLST-HS ngày 20/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/QĐXXST-HS ngày 05/02/2020 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị Ph, sinh năm 1985, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa;Nơi cư trú:Thôn 1, xã Xuân Gi, huyện Thọ X,Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Bố: Lê Đức T, (đã chết) và Mẹ: Lê Thị T, sinh năm 1958; có chồng: Lê Hữu Đ, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Có 03 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009);Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, Có mặt;
2.Trƣơng Thế L, sinh năm 1991, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn 8, xã Thọ Tr, huyện Thọ X, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: Lớp 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giớ tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Trương Minh Tr (đã chết) và Mẹ: Nguyễn Thị Ch, (đã chết); Vợ, con: Chưa có;Tiền sự: Chưa có;Tiền án: 01, ngày 9/3/2016 Tòa án ND huyện Thọ Xuân xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo Bản án số 13/2016/HSST. Đến ngày 15/9/2019, bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội trong thời gian thử thách.Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, Có mặt;
3.Trần Văn Th, sinh năm 1986, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Hải M, xã Thọ H, huyện Thọ X, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Quốc tịch:Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Không xác định được; Mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1964; Vợ: Đặng Thị H, sinh năm 1992; có 2 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015);Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Ngày 17/3/2015, Công an huyện Thọ Xuân ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 20/3/2015, Công an huyện Thọ Xuân tiến hành lập biên bản xác minh để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng Trần Văn Th không có khả năng thi hành. Đến ngày 16/10/2019 Cơ quan điều tra xác minh, xác định Trần Văn Th chưa nộp tiền phạt. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, Có mặt;
4.Trịnh Mạnh C, sinh năm 1993, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa;Nơi cư trú: Xóm 2, xã Xuân Y, huyện Thọ X, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Trịnh Mạnh H, sinh năm 1964; Mẹ: Vũ Thị Ch, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Thị Ph, sinh năm1994; có 1 con sinh năm 2016;Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 27/5/2014, Công an huyện Thọ Xuân xử phạt vi phạm hành chính 4.250.000đ, về hành vi về hành vi gây thương tích và làm hư hỏng tài sản, theo Quyết định số 61/QĐ-XPVPHC nhưng Trịnh Mạnh C chưa nộp tiền phạt, cơ quan có thẩm quyền không tiến hành xác minh, cưỡng chế. Đến nay đã hết thời hiệu nộp phạt theo quy định tại Điều 74 Luật Xử lý VPHC.Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, Có mặt;
5.Lại Khắc H, sinh năm 1981, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa;Nơi cư trú: Thôn Xuân L, xã Xuân H, huyện Thọ X, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Lại Khắc Ch, sinh năm 1954; Mẹ: Cao Thị X, sinh năm 1953; Vợ: Doãn Thị O, sinh năm 1983; Con: Có 03 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005); Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt;
6.Lại Khắc H, sinh năm 1982, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa;Nơi cư trú: Đội 6, xã Xuân H, huyện Thọ X, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Lại Khắc Th, sinh năm 1960; Mẹ: Lê Thị L, sinh năm 1962; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1986; Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009); Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 03/10/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
7.Lê Doãn Th, sinh năm 1985, tại huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa;Nơi cư trú: Khu 1, thị trấn huyện Thọ X, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Lê Doãn N, (đã chết); Mẹ: Tống Thị B, sinh năm 1958; Vợ: Ngân Thị H, sinh năm 1991; Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2019. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt;
*Người Bị hại;
- Anh Lê Văn T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Liên Th, xã Luận Th,
huyện Thường X, tỉnh Thanh Hóa; văng măt.
- Anh Lê Thế T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn 4, xã Xuân Gi, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; văng măt.
- Chị Dương Thị Ph, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm 5, xã Xuân S, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; văng măt.
- Anh Lê Xuân Th – sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu 3, thị trấn Sao V,
huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Bùi Ngọc C, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Xóm 4, xã Xuân Th, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặ
- Chị Lê Thị O , sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn Ba Ng, xã Xuân Ph, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Đỗ Hồng Qu, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố 4 mới, thị trấn Sao V, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Ông Nguyễn Hồng Th, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn Ba X, xã Kiên Th, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn Đô X, xã Dân L,
huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Hà Quang M, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Khu 1, xã Nguyệt Ấ, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H; Vắng mặt
- Anh Quách V , sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn Hợp Th, xã Phùng Gi,
huyện Ngọc L, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Lê Văn Th, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn Hợp Th, xã Phùng Gi,
huyện Ngọc L, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Hà Văn D, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Khu 1, thị trấn Sao V, huyện
Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Nguyễn Quốc Kh, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Xóm 1, xã Bắc L,
huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Đào Xuân L, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn Đồng Tr, xã Bình S,
huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm 1, xã Xuân Th, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Lê Ngọc S, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn Sao V, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Anh Lê Đức H, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn Sao V, huyện
Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn Ng , sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn 15, xã Xuân S,
huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ, quen biết nhau từ trước nên Lê Thị Ph đã câu kết, móc nối với Trịnh Mạnh C, Trương Thế L, Trần Văn Th, Lại Khắc H, Lê Doãn T và Lại Khắc H đi bắt trộm chó về bán cho Lê Thị Ph với giá từ 45.000đ đến 50.000đ/1kg, sau đó Ph bán lại giá 60.000đ/1kg để kiếm lời. Từ đầu năm 2019 đến nay, Lê Thị Ph sử dụng nhà mình (ở thôn 1, xã Xuân Gi, huyện Thọ X, Thanh Hóa) xây dựng hầm chứa kiên cố làm tụ điểm thu mua chó trộm cắp; làm địa điểm để cho các đối tượng tập trung ăn uống, nghỉ ngơi, tắm giặt; cho các đối tượng để lại dụng cụ đi bắt trộm chó, như: Bộ kích điện và súng điện tự chế, đèn pin, quần áo bảo hộ, dao hàn tuýp sắt. Lê Thị Ph mua sẵn xăng, bao bì, ớt bột, băng keo, dây thép ly cho các đối tượng sử dụng đi bắt trộm chó. Lê Thị Ph thống nhất với các đối tượng bắt trộm được chó về cân bán cho Ph, Ph sẽ trừ lùi đi 2kg để bù vào số tiền đã mua các dụng cụ trên cho các đối tượng sử dụng đi bắt trộm chó. Lê Thị Ph khai nhận, trước ngày 15/9/2019, đã mua chó trộm cắp của các đối tượng trên nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể thời gian, số con và tổng trọng lượng từng lần vì không biết chữ nên không có sổ sách ghi chép lại.
Đêm 14, rạng sáng ngày 15/9/2019, các đối tượng Trịnh Mạnh C, Trương Thế L, Trần Văn Th, Lại Khắc H, Lê Doãn Th và Lại Khắc H đến nhà Lê Thị Ph lấy dụng cụ và chia thành ba nhóm đi bắt trộm được 21 con chó về bán cho Lê Thị Ph cân được tổng trọng lượng 253kg. Lê Thị Ph mới thanh toán cho Trần Văn Th được 1.400.000đ, còn lại chưa kịp thanh toán tiền thì bị bắt quả tang.
Theo Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG, ngày 18/9/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh Thanh Hóa, kết luận: 21 con chó, nặng 253kg, trị giá 17.710.000đ. Trong số 21 con chó đã xác định được chủ nuôi 19 con chó tổng trọng lượng 239kg, trị giá 16.730.000đ. Còn lại 02 con chó tổng trọng lượng 14kg trị giá 980.000đ do đã chết và không xác định được chủ nuôi.
2. Hành vi trộm cắp tài sản của Trịnh Mạnh C và Trƣơng Thế L:
Khoảng hơn 22h đêm 14/9/2019, Trịnh Mạnh C và Trương Thế L đến nhà Lê Thị Ph để lấy dụng cụ đi bắt trộm chó như thường lệ. Trịnh Mạnh C và Trương Thế L lấy bình kích điện và thòng lọng bắt chó, 2 con dao hàn tuýp sắt dài khoảng 1m dùng băng keo dính vào hông xe; Đổ xăng vào xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen không có biển kiểm soát của Trương Thế L; mang theo bao bì để đi bắt trộm chó. Trịnh Mạnh C và Trương Thế L phân công, thống nhất với nhau: Trịnh Mạnh C có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô; Trương Thế L ngồi sau cầm thòng lọng có dây gắn vào bình kích điện; khi gặp chó Trịnh Mạnh C sẽ điều khiển xe áp sát để Trương Thế L dùng thòng lọng kích điện bắt chó, sử dụng băng dính buộc mỏm chó, dây thép ly buộc chân chó bỏ vào bì về bán cho Lê Thị Ph, tiền bán chó chia đôi; 2 con dao hàn tuýp sắt dùng để chống trả khi bị phát hiện, truy đuổi.
Sau khi chuẩn bị dụng cụ, Trịnh Mạnh C điều khiển xe mô tô chở Trương Thế L chạy hướng đi dọc quốc lộ 47 đến ngã tư sân bay Sao Vàng lên đường mòn Hồ Chí Minh bắt trộm được 7 con chó về bán cho Lê Thị Ph, cân tổng trọng lượng 89kg, trị giá 6.230.000đ. Trong đó đã xác định được 5 con chó, tổng trọng lượng 63kg trị giá 4.410.000đ, của gia đình anh Lê Văn T (SN 1990, ở thôn Liên Th, xã Luận Th, huyện Thường Xuân), Lê Thế T (SN 1982, ở thôn 4, xã Xuân Gi, huyện Thọ Xuân), Lê Xuân Th (SN 1980, ở khu 3, TT. Sao V, huyện Thọ Xuân), Bùi Ngọc C (SN 1977, ở xóm 4, xã Xuân Th, huyện Thọ Xuân), Đỗ Hồng Qu (SN 1972, chỗ ở khu phố 4 mới, TT Sao V, huyện Thọ Xuân), chị Dương Thị Ph (SN 1990, ở xóm 5, xã Xuân S, huyện Thọ Xuân) và chị Lê Thị O (SN 1985, ở thôn Ba Ngọc, xã Xuân Ph, huyện Thọ Xuân), về bán cho Lê Thị Ph, chưa kịp thanh toán tiền thì bị bắt quả tang.
3. Hành vi trộm cắp tài sản của Trần Văn Th và Lại Khắc H:
Trước đêm 14/9/2019, Trần Văn Th và Lại Khắc H đã thực hiện hành vi trộm cắp chó khoảng 4 lần, mỗi lần được từ 1 đến 6 con chó về bán cho Lê Thị Ph, giá từ 45.000đ đến 50.000đ/1kg nhưng không nhớ được cụ thể thời gian số lượng, trọng lượng chính xác từng lần. Khoảng hơn 22h đêm 14/9/2019, Trần Văn Th và Lại Khắc H đến nhà Lê Thị Ph để lấy dụng cụ đi bắt trộm chó như thường lệ. Trần Văn Th và Lại Khắc H lấy bình kích điện và thòng lọng bắt chó, 1 con dao hàn tuýp sắt dài khoảng 1m dùng băng kéo dính vào hông xe; Đổ xăng vào xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 36D1- 398. 43 của Th; mang theo băng dính, dây thép ly, đèn pin, 3 vỏ chai thủy tinh (trong đó có 1 chai ớt bột), 2 bao bì để đi bắt trộm chó. Trần Văn Th và Lại Khắc H phân công, thống nhất với nhau: Trần Văn Th có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô; Lại Khắc H ngồi sau cầm thòng lọng có dây gắn vào bình kích điện; khi gặp chó Trần Văn Th sẽ điều khiển xe áp sát để Lại Khắc H dùng thòng lọng bắt chó, sử dụng băng dính buộc mỏm chó, dùng dây thép ly buộc chân chó bỏ vào bì về bán cho Lê Thị Ph, tiền bán chó chia đôi; vỏ chai thủy tinh, ớt bột, dao năm hàn tuýp sắt dùng để chống trả khi bị phát hiện, truy đuổi. Sau khi chuẩn bị dụng cụ, Trần Văn Th điều khiển xe mô tô chở Lại Khắc H chạy hướng đi dọc lên đường mòn Hồ Chí Minh qua ngã ba Si, Ngọc Lặc bắt trộm được 7 con chó về bán cho Lê Thị Ph, cân tổng trọng lượng 80kg, trị giá 5.600.000đ. Trong đó chỉ xác định được 5 con chó, tổng trọng lượng 66kg, trị giá 4.620.000đ của gia đình anh Nguyễn Hồng Th (SN 1967 ở Ba Xi, xã Kiên Th, huyện Ngọc Lặc), Trần Ngọc H (SN 1970 ở thôn Đô x, xã Dân L, huyện Triệu Sơn), Hà Quang M (SN 1988 ở khu 1, xã Nguyệt Ấ, huyện Ngọc Lặc), Quách Văn H (SN 1976 ở thôn Hợp Th, xã Phùng Gi, huyện Ngọc Lặc) và Lê Văn Th (SN 1978 ở thôn Hợp Th, xã Phùng Gi, huyện Ngọc Lặc), về bán cho Lê Thị Ph. Ph mới trả cho Trần Văn Th được 1.400.000đ, số tiền còn lại chưa thanh toán thì bị bắt quả tang.
4. Hành vi trộm cắp tài sản của Lê Doãn Th và Lại Khắc H:
Trước đêm 14/9/2019, Lê Doãn Th và Lại Khắc H đã thực hiện hành vi trộm cắp chó nhiều lần, mỗi lần được từ 70 đến 80kg chó về bán cho Lê Thị Ph nhưng không nhớ được cụ thể thời gian, số lượng, trọng lương chính xác từng lần. Khoảng hơn 22h đêm 14/9/2019, Lê Doãn Th và Lại Khắc H đến nhà Lê Thị Ph để lấy dụng cụ đi bắt trộm chó như thường lệ. Lê Doãn Th và Lại Khắc H lấy bình kích điện và thòng lọng bắt chó, 1 con dao hàn tuýp sắt dài khoảng 1m dùng băng kéo dính vào hông xe; Đổ xăng vào xe mô tô nhãn hiệu Sirius xám đen không có biển kiểm soát do Lại Khắc H mượn của cậu là Lê Phú L (SN 1976, ở thôn 4, xã Xuân Qu, Thọ Xuân); mang theo vỏ chai thủy tinh, ớt bột, băng dính, đèn pin, bao bì để đi bắt trộm chó. Lê Doãn Th và Lại Khắc H phân công, thống nhất với nhau: Lại Khắc H có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô; Lê Doãn Th ngồi sau cầm thòng lọng có dây gắn vào bình kích điện; khi gặp chó Lại Khắc H sẽ điều khiển xe áp sát và dùng đèn pin dọi vào mắt chó để Lê Doãn Th dùng thòng lọng bắt chó, sử dụng băng dính buộc mỏm chó, dây thép ly buộc chân chó bỏ vào bì về bán cho Lê Thị Ph, tiền bán chó chia đôi; vỏ chai thủy tinh, ớt bột, dao hàn tuýp sắt dùng để chống trả khi bị phát hiện, truy đuổi.
Sau khi chuẩn bị dụng cụ, Lại Khắc H điều khiển xe mô tô chở Lê Doãn Th chạy hướng đi lòng vòng nhiều xã thuộc các huyện Triệu Sơn, Thọ Xuân rồi đi ra đường mòn Hồ Chí Minh, hướng đi huyện Như Thanh bắt trộm được 7 con chó về bán cho Lê Thị Ph, cân tổng trọng lượng 84kg, trị giá 5.880.000đ, của gia đình anh Hà Văn D (SN 1991 ở khu 1, TT. Sao V, huyện Thọ Xuân), Nguyễn Quốc Kh (SN 1970 ở xóm 1, xã Bắc L, huyện Thọ Xuân), Đào Xuân L (SN 1982 ở Đồng Tr, xã Bình S, huyện Triệu Sơn), Lê Ngọc S (SN 1984 ở khu 2, TT. Sao V, huyện Thọ Xuân), Lê Đức H (SN 1981 ở khu 2, TT. Sao V, huyện Thọ Xuân), Nguyễn Văn Ng (SN 1969 ở thôn 15, xã Xuân S, huyện Thọ Xuân) và chị Nguyễn Thị H (SN 1991 ở xóm 1, xã Xuân Th, huyện Thọ Xuân), về bán cho Lê Thị Ph, chưa kịp thanh toán tiền thì bị bắt quả tang. Lại Khắc H lợi dụng sơ hở bỏ trốn sau đó ra đầu thú.
Vật chứng: 03 bộ kích điện có gắn que kích điện; 03 đèn pin; 03 con dao; 03 bình ớt bột; 03 can nhựa (trong đó có 01 can đựng xăng); 1.400.000đ tiền VN; 07 cuộn băng dính màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen (không BKS); 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius (Lực) màu bạc (không BKS); 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, BKS 36D1- 398.43; 01 xe mô tô Jupiter BKS 36D1- 579.36; 01 xe mô tô Exciter BKS 36D1- 411.99; 01 xe mô tô Sirius BKS 36D1- 481.96; 01 xe mô tô Sirius BKS 36D1- 468.76; 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa; 01 cuộn dây thép li; 05 bao tải màu xanh; 02 bình kích điện; 01 vợt màu xanh dài K1,2m đầu hình tròn đường kính 40cm; 01 kìm kẹp chó bằng kim loại.
Quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô Exciter BKS 36D1- 411.99 và xe mô tô nhãn hiệu Sirius (không BKS), không phải là tang vật của vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.
Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-P2 ngày 17/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Thị Ph, Trương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc Hvề tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 2 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47(thêm điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 với Trương Thế L và khoản 2 Điều 51 đối với Lại Khắc H) của Bộ luật hình sự,
Xử phạt:
- Bị cáo Lê Thị Ph từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
- Bị cáo Trương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Trương Thế L tổng hợp Bản án số 13/2016/HSST ngày 9/3/2016 Tòa án ND huyện Thọ Xuân xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 1, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Thị Ph từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ; Về vật chứng và án phí các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để yên tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an tỉnh Thanh Hóa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Thị Ph, Trương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng viện kiểm sát truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm pháp quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Đêm 14, rạng sáng ngày 15/9/2019 các bị cáo Trương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H đã đi xe máy đến các huyện Thọ Xuân, Như Thanh, Như Xuân, Thường Xuân lợi dung đên tối của các hộ gia đình nuôi chó thiếu cảnh giác lén lút bắt trộm được 21 con chó về bán cho Lê Thị Ph, cân tổng trọng lượng 253kg, trị giá 17.710.000đ. Trong đó đã xác định được 19 con chó, tổng trọng lượng 239kg, trị giá 16.730.000đ. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Lê Thị Ph và đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Bởi hành vi trên, các bị cáo đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, nhất là tình hình tội phạm về trộm cắp tài sản nói chung và trộm cắp chó nói riêng đang có diễn biến phức tạp tại một số địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật với mức án nghiêm mới có tác dụng phòng ngừa chung và giáo dục riêng.
Đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy đây là vụ án đồng phạm có tổ chức của ba nhóm đồng phạm. Nhóm đồng phạm thứ nhất gồm các bị cáo: Trương Thế L, Trịnh Văn C; nhóm đồng phạm thứ hai gồm các bị cáo: Trần Văn Th, Lại Khắc H; nhóm đồng phạm thứ ba gồm có: Lê Doãn Th, Lại Khắc H. Các bị cáo trong ba nhóm đồng phạm trên có sự bàn bạc, thống nhất với nhau trước khi thực hiện tội phạm, có người chủ mưu và phân công thực hiện tội phạm, trong đó:
- Đối với Lê Thị Ph là người đã cấu kết, móc nối với các bị cáo Trương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H để đi bắt trộm chó về bán cho bị cáo. Sau đó bán lại cho người khác để kiếm lời. Lê Thị Ph sử dụng nhà ở của mình làm tụ điểm thu mua chó trộm cắp, cho các bị cáo để lại dụng cụ dùng để bắt trộm chó như: mua bao bì, ớt bột, băng keo, áo bảo hộ lao động, xăng xe cho các bị cáo sử dụng đi bắt trộm chó, nên giữ vai trò chính có mức án cao hơn các bị cáo trong vụ án.
- Đối với Trương Thế L và Trịnh Mạnh C là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, Trương Thế L lấy bình kích điện và thòng lọng bắt chó, 2 con dao hàn tuýp sắt dài khoảng 1m dùng băng keo dính vào hông xe; bao bì; dùng xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen không có biển kiểm của mình; Trịnh Mạnh C điều khiển xe mô tô; Trương Thế L ngồi sau cầm thòng lọng có dây gắn vào bình kích điện; khi gặp chó Trịnh Mạnh C sẽ điều khiển xe áp sát để Trương Thế L dùng thòng lọng kích điện bắt được 7 con chó về bán cho Lê Thị Ph, cân tổng trọng lượng 89kg, trị giá 6.230.000đ, có vai trò như nhau, sau bị cáo Ph
- Đối với Trần Văn Th, Lại Khắc H, Lê Doãn Th và Lại Khắc H là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp,Trần Văn Th và Lại Khắc H lấy bình kích điện và thòng lọng bắt chó, 1 con dao hàn tuýp sắt dài khoảng 1m dùng băng kéo dính vào hông xe; Đổ xăng vào xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 36D1- 398. 43 của Thắng; mang theo băng dính, dây thép ly, đèn pin, 3 vỏ chai thủy tinh (trong đó có 1 chai ớt bột), 2 bao bì. Trần Văn Th có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô; Lại Khắc H ngồi sau cầm thòng lọng có dây gắn vào bình kích điện; khi gặp chó Trần Văn Th sẽ điều khiển xe áp sát để Lại Khắc H dùng thòng lọng bắt được 7 con chó, cân tổng trọng lượng 80kg, trị giá 5.600.000đ; Lê Doãn Th và Lại Khắc H lấy bình kích điện và thòng lọng bắt chó, 1 con dao hàn tuýp sắt dài khoảng 1m dùng băng kéo dính vào hông xe; Đổ xăng vào xe mô tô nhãn hiệu Sirius xám đen không có biển kiểm soát do Lại Khắc H mượn của cậu là Lê Phú L (SN 1976, ở thôn 4, xã Xuân Qu, Thọ Xuân); mang theo vỏ chai thủy tinh, ớt bột, băng dính, đèn pin, bao bì để đi bắt trộm được 7 con chó cân tổng trọng lượng 84kg, trị giá 5.880.000đ tiền bán chó chia đôi; vỏ chai thủy tinh, ớt bột, dao năm hàn tuýp sắt dùng để chống trả khi bị phát hiện, truy đuổi. có vai trò như nhau, thứ yếu trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo Trương Thế L đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, nay phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại Bản án số 13/2016/HSST ngày 9/3/2016 Tòa án ND huyện Thọ Xuân xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Đến ngày 15/9/2019, bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội trong thời gian thử thách, theo khoản 1, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
*Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra, tại phiên Tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
Tình tiết giảm nhẹ của Lại Khắc H: Sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú khai nhận hình vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ tính chất, hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo, rèn luyện thành người có ích cho xã hội và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
. Về xử lý vật chứng:
- 03 bộ kích điện có gắn que kích điện; 03 đèn pin; 03 con dao; 03 bình ớt bột; 03 can nhựa (trong đó có 01 can đựng xăng); 07 cuộn băng dính màu đen; 01 cuộn dây thép li; 05 bao tải màu xanh; 02 bình kích điện; 01 vợt màu xanh dài K1,2m đầu hình tròn đường kính 40cm; 01 kìm kẹp chó bằng kim loại
- 1.400.000đ tiền VN; 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen (không BKS) của Trương Thế L;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, BKS 36D1- 398.43của Trần Văn Th; Các vật chứng trên là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, chiếc xe mô tô 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, BKS 36D1-398.43 là tài sản chung vợ chồng, theo quy định của pháp luật thì chị Đặng Thị H và bị cáo có quyền ngang nhau về tài sản chung này, chị H không có lỗi đưa chiếc xe mô tô này cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và khi xử lý tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe thì phải trả lại cho chị Đặng Thị H ½ giá trị chiếc xe tại cơ quan thi hành án dân sự.
Đối với xe mô tô : 01 xe mô tô Jupiter BKS 36D1- 579.36; 01 xe mô tô Sirius BKS 36D1- 481.96; 01 xe mô tô Sirius BKS 36D1- 468.76, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội. Trả lại cho chủ sở hữu tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 BLTTHS 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điểm a khoản 2, 5 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lê Thị Ph;
Điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; khoản 1, 5 Điều 65 BLTTHS đới với Trương Thế L;
Điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H ( thêm khoản 2 Điều 51 Lại Khắc H); Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố:Các bị cáo Lê Thị Ph,Trương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
- Bị cáo Lê Thị Ph 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
- Bị cáo Trương Thế L 28 (hai mươi tám) tháng tù và 27(hai mươi bảy) tháng tù của Bản án số13/2016/HSSTngày 9/3/2016 Tòa án ND huyện Thọ Xuân. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 55 (năm năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
- Bị cáo Trần Văn Th 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
- Bị cáo Trịnh Văn C 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
- Bị cáo Lại Khắc H 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
- Bị cáo Lê Doãn Th 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
- Bị cáo Lại Khắc H 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/09/2019;
* Phạt bổ sung: Lê Thị Ph 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
*Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy các vật chứng:
- 03 bộ kích điện có gắn que kích điện; 03 đèn pin; 03 con dao; 03 bình ớt bột; 03 can nhựa (trong đó có 01 can đựng xăng); 07 cuộn băng dính màu đen; 01 cuộn dây thép li; 05 bao tải màu xanh; 02 bình kích điện; 01 vợt màu xanh dài K1,2m đầu hình tròn đường kính 40cm; 01 kìm kẹp chó bằng kim loại
* Tịch thu sung ngân sách nhà nước.
-1.400.000đồng tiền VNĐ; 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa; 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen (không BKS) của Trương Thế Lãnh; 1/2 giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, BKS 36D1- 398.43 của Trần Văn Th.
* Trả lại cho chị Đặng Thị H ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, BKS 36D1- 398.43
* Trả lại: 01 xe mô tô Jupiter BKS 36D1- 579.36 mang tên Lê Doãn Th; 01 xe mô tô Sirius BKS 36D1- 481.96 mang tên Lại Khắc H ; 01 xe mô tô Sirius BKS 36D1- 468.76 mang tên Lê Doãn Th
Các vật chứng trên được ghi nhận tại biên bản giao nhận vật chứng cấp ngày 18/12/2019 giữa phòng PC02- cơ quan CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa và cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo Lê Thị PhTrương Thế L, Trần Văn Th, Trịnh Văn C, Lại Khắc H, Lê Doãn Th, Lại Khắc H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Thanh hóa; - Công an tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan THA hình sự, dân sự; - Trại tạm giam; - bị cáo, bị hại Luật sư; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Quách Văn Th |