vanban.org

Bản án 14/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

NGUYỄN VĂN B: 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 10/02/2020. Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn B được miễn nộp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƢỚC SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HSST
Ngày: 26/6/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN – TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pơ Loong Đếch

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Đức Toàn

+ Ông Vũ Đình Cuối

- Thư ký phiên tòa: Ông Zơ Râm Quốc Sinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Đờ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020; tại Hội trường xét xử tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/TLST-HS, ngày 20/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST – HS, ngày 18/5/2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN B; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 14/4/1990; tại: Huyện Đ, tỉnh T; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm C, xã L, huyện Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (1967) và con bà Trần Thị C (1968). Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2020 và tạm giam ngày 13/02/2020. Hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

*Người bào chữa cho bị cáo: Bà Ngô Thị Diễm – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam; có mặt.

*Người bị hại: Ông Hồ Văn Q; trú tại: Tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Diệp Văn H; trú tại: Xóm C, xã L, huyện Đ, tỉnh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 10/02/2020, Nguyễn Văn B và Diệp Văn H đến trụ sở Công an thị trấn K, huyện P, tỉnh Q để làm việc vì trước đó có liên quan đến hành vi sử dụng chất ma túy. Lúc này ông Hồ Văn Q (là cán bộ Công an thị trấn K) đang ngồi tại bàn gỗ, ghế đá trước sân trụ sở Công an thị trấn thì có công dân đến làm việc nên vào bên trong để tiếp công dân; ông Hồ Văn Q để lại điện thoại di động Iphone 7 plus trên mặt bàn. Trong khi chờ làm việc, Nguyễn Văn B thấy trên bàn gỗ, ghế đá có 01 điện thoại di động nên đã nảy sinh ý định trộm cắp; Nguyễn Văn B quan sát không thấy ai nên đến vị trí điện thoại đặt trên bàn và lấy bỏ vào túi quần đang mặc phía bên trái rồi đi ra ngoài trụ sở Công an thị trấn K. Nguyễn Văn B gọi Diệp Văn H đi ra và đi đến quán Café Ha Na tại Đường 12 tháng 5 thị trấn K uống nước. Tại đây B lấy điện thoại ra mở nhưng không được do điện thoại bị khóa mật khẩu, sau đó thấy điện thoại có khoảng 03 đến 04 cuộc gọi thì B không dám nghe và tắt nguồn điện thoại. Sau khi uống nước xong B và H đi bộ đến đoạn đường giao nhau giữa đường Phạm Văn Đồng và đường 12 tháng 5 thì bị lực lượng Công an huyện Phước Sơn bắt về trụ sở làm việc. Qua kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn B đang giữ chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus trong túi quần bên trái đang mặc nên lập biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Tại kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐG, ngày 12/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam kết luận: 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen có giá trị 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 Plus vỏ màu đen đã qua sử dụng của ông Hồ Văn Q.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS, ngày 20/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận: Khoảng 14 giờ chiều ngày 10/02/2020, bị cáo đến công an thị trấn K, huyện P, tỉnh Q để làm việc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; trong khi chờ làm việc với công an thì bị cáo đã có hành vi lấy trộm một điện thoại di động Iphone 7 Plus của ông Hồ Văn Q tại bàn gỗ, ghế đá trong trụ sở Công an thị trấn K. Việc thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại chỉ có một mình bị cáo, không có ai tham gia, không có ai xúi dục; việc lấy trộm điện thoại di động tại trụ sở Công an thị trấn K chính là bị cáo, bị cáo không nhận tội thay cho ai. Diệp Văn H không biết việc bị cáo lấy trộm điện thoại. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị đánh đập, không bị ép cung, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên tòa, xét thấy ngày 10/02/2020, bị cáo Nguyễn Văn B đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 7 Plus có giá trị 12.000.000 đồng của ông Hồ Văn Q. Hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản của bị cáo Nguyễn Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn B chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải nên được xem là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; không có tình tiết tăng nặng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ: 6 - 9 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn B là người dân tộc thiểu số, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Hồ Văn Q đã nhận lại điện thoại di động Iphone 7 Plus và không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường khoản gì nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã trả lại 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus vỏ màu đen cho người bị hại ông Hồ Văn Q nên không đề cập.

Đối với ông Diệp Văn H khi bị cáo Nguyễn Văn B lấy trộm điện thoại thì không biết và không liên quan nên cơ quan điều tra công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam không xem xét trách nhiệm hình sự nên không đề cập.

Luận cứ bào chữa: Thống nhất như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam về tội danh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức nhẹ nhất của khung hình phạt.

Về hình phạt bổ sung bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không phạt bổ sung. Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo là người dân tộc thiểu số; có đơn xin miễn nộp nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn nộp.

Bị cáo Nguyễn Văn B thống nhất với luận cứ của người bào chữa, ngoài ra không tranh luận gì thêm, nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo thống nhất như quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ nên không tranh luận gì thêm. Về án phí hình sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nên các hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn B biết và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại Iphone 7 Plus có giá trị 12.000.000 đồng của Hồ Văn Q vào ngày 10/02/2020 tại trụ sở Công an thị trấn K, huyện P.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết luận định giá tài sản; luận tội của kiểm sát viên; luận cứ của người bào chữa; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ được chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép 01 điện thoại Iphone 7 Plus có giá trị 12.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Công dân có quyền được có tài sản hợp pháp và được pháp luật bảo vệ, nếu người nào có hành vi xâm phạm trái phép đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác thì sẽ bị pháp luật xử lý. Người thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép 01 điện thoại Iphone 7 Plus có giá trị 12.000.000 đồng của Hồ Văn Q vào ngày 10/02/2020 tại trụ sở Công an thị trấn K, huyện P, tỉnh Q chính là bị cáo Nguyễn Văn B do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được xem là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; không có tình tiết tăng nặng.

Đối với Diệp Văn H không biết việc bị cáo Nguyễn Văn B thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động tại Công an thị trấn K nên không đề cập đến.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Hồ Văn Q đã nhận lại điện thoại di động Iphone 7 Plus vỏ màu đen. Ngoài ra, không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản gì nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã trả lại cho người bị hại ông Hồ Văn Q 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus vỏ màu đen nên không đề cập.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số; có đơn xin miễn nộp. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Nguyễn Văn B được miễn nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo:

NGUYỄN VĂN B: 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 10/02/2020.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn B được miễn nộp.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm. Riêng người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hình sự sơ thẩm.

Cỡ chữ