vanban.org

Bản án 14/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (mười năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 16/01/2020, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HSST
Ngày: 16/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bách

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Quảng và bà Trần Thị Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Huấn- Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2020/HSST, ngày 13/3/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS, ngày 25/3/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/HSST-QĐ, ngày 30/3/2020, Thông báo mở lại phiên tòa ngày 09/4/2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh năm 1974;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Bùi Văn T1 và bà Bùi Thị C;

Vợ là Nguyễn Thanh Đ; Có 02 con, lớn sinh năm 2000 và nhỏ sinh năm 2003;

Tiền án: Bản án số 104/2017/HSST, ngày 27/6/2017 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 3 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Bản án số 10/2009/HSST, ngày 26/02/2009 của TAND huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2010, án phí ngày 25/7/2009.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2020, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 18/01/2020;

Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Quan Văn T2- sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 16/01/2020 Bùi Văn T từ nhà của mình ở khu T, phường T, thị xã K dùng xe máy biển số 34N3- 6322 (xe T khai do người phụ nữ tên T3 ở trọ gần khu nhà hàng 559 HD cho T mượn trước đó) đến khu vực cây xăng HT, thị trấn M, thị xã K mua của người đàn ông không quen biết 200.000đ ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T đút ma túy vào túi quần bò của mình rồi đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi xe máy mang theo số ma túy trên đi gặp T3 để cùng sử dụng. Khi đi đến khu vực T- phường A- thành phố H thì gặp T3 ở đó. Do không có dụng cụ để sử dụng ma túy nên T3 bảo T ngồi sau xe máy để T3 chở về NS mượn dụng cụ của bạn T3. Khi đi đến cây xăng thuộc địa phận khu NVT, thị trấn NS thì T3 và T dừng lại chờ bạn T3 mang dụng cụ ra. Trong lúc đứng chờ thì bị Công an huyện Nam Sách kiểm tra phát hiện bắt quả tang T cùng tang vật, còn T3 bỏ chạy thoát.

Tang vật thu giữ gồm 01 gói nilon kích thước 02 x 02cm chứa 0,240g ma túy loại Methamphetamine, 01 xe máy màu đen trắng BKS: 34N3- 6322 dán nhãn Wave Movistar số khung RLSBE4DJ0813597, số máy SME45513597.

Tại bản kết luận giám định số 97/KLGĐ- PC09 ngày 17/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là 0,240gam là ma túy, loại Methamphetamine, nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-NS ngày 12/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Văn T thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 16 đến 19 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 16/01/2020; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 97/KLGĐ- PC09 của phòng PC09 Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,182g Methamphetamine cùng vỏ bao bì hoàn lại sau giám định. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 16/01/2020, tại khu vực cây xăng thuộc khu NVT, thị trấn NS, huyện N, tỉnh Hải Dương, bị cáo Bùi Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,240 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 10/2009/HSST, ngày 26/02/2009 của TAND huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2010, án phí ngày 25/7/2009.

Bị cáo có 01 tiền án theo Bản án số 104/2017/HSST, ngày 27/6/2017 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 3 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019 nên lần phạm tội này của bị cáo T bị coi là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách có thu giữ của bị cáo gồm 01 gói nilon kích thước 02 x 02cm chứa 0,240g ma túy loại Methamphetamine, 01 xe máy màu đen trắng BKS: 34N3- 6322 dán nhãn Wave Movistar số khung RLSBE4DJ0813597, số máy SME45513597. Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại 0,182g Methamphetamine cùng vỏ bao bì mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong số 97/KLGĐ- PC09 của phòng PC09 Công an tỉnh Hải Dương. Methamphetamine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; vỏ bao bì mẫu vật không có giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với chiếc xe máy màu đen trắng BKS: 34N3- 6322 dán nhãn Wave Movistar số khung RLSBE4DJ0813597, số máy SME45513597 chưa làm rõ được chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan Công an huyện Nam Sách tiếp tục điều tra để xử lý theo quy định là phù hợp.

Đối với người phụ nữ tên T3 cho T mượn xe máy và đi cùng để sử dụng ma túy với T, nhưng qua xác minh không xác định được nên chưa có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T ở khu vực cây xăng HT, thị trấn M, thị xã K qua xác minh chưa làm rõ được nên tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (mười năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 16/01/2020, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 97/KLGĐ- PC09 của phòng PC09 Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 0,182g Methamphetamine cùng vỏ bao bì hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn Thỉnh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ