vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 13/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày 13 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Sự và ông Nguyễn Văn Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Đội 2, thôn L, xã H1, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến C (đã chết) và bà Dương Thị S; có vợ Lê Thị H2 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001; con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2019, chuyển tạm giam ngày 27/12/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

- Bà Lê Thị X, sinh năm 1961.

Trú tại: Đội 3, thôn Đ, xã H1, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1978.

Trú tại: Đội 4, thôn Đ, xã H1, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 24/12/2019, Nguyễn Mạnh T đi bộ từ nhà đến khu vực Đình Tiểu thuộc thôn Đ, xã H1 mua 02 gói Heroine giá 400.000 đồng của người đàn ông không quen biết. Về đến nhà, T lấy 01 gói Heroine ra sử dụng hết khoảng 2/3. Còn 1/3 T gói lại cất đi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Ngô Văn T1 đến nhà T hỏi mua Heroine với giá 100.000 đồng. T lấy gói Heroin vừa sử dụng còn lại 1/3 đưa cho T1. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T cầm gói Heroine còn lại đi ra gầm cầu H3 thuộc địa phận thôn Đ, xã H1, thành phố Hưng Yên để tìm người bán kiếm lời thì Công an thành phố H bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột; 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng.

Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạnh T nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại Bản kết luận giám định số 48/MT-PC09 ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong thu của Nguyễn Mạnh T là Heroine có khối lượng 0,306 gam. Hoàn lại 0,254 gam Heroine sau giám định.

Tại Cơ quan điều tra Ngô Văn T1 khai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/12/2019, T1 đến nhà T mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng về sử dụng. T1 đưa cho T 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Mạnh T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKS-TPHY ngày 30/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Mạnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo không thắc mắc nội dung bản Cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện VKSND thành phố H giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Về điều luật: Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/12/2019.

+ Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu cho tiêu hủy 0,254 gam Heroine thu của Nguyễn Mạnh T trong niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên hoàn mẫu vật sau giám định; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố H; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ đó là: Biên bản bắt người phạm tội quả tang được Công an thành phố H lập hồi 12 giờ 20 phút ngày 24/12/2019 đối với Nguyễn Mạnh T, có sự chứng kiến của bà Lê Thị X, lời khai của người làm chứng anh Ngô Văn T1; Bản kết luận giám định số 48/MT-PC09 ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; cùng vật chứng đã thu giữ được là Heroine. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/12/2019 tại đội 2, thôn L, xã H1, thành phố H, Nguyễn Mạnh T đã có hành vi bán 01 gói Heroine cho Ngô Văn T1 với giá 100.000 đồng; ngoài ra Nguyễn Mạnh T còn tàng trữ trái phép 0,306 gam (không phẩy ba không sáu gam) ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Chính vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan sai.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ ông Nguyễn Tiến C là thương binh loại A, thương tật 1/8, năm 1975 được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng vì hám lời, bị cáo vẫn bán ma túy cho người khác, tiếp tay cho tệ nạn ma túy. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng và hiện tại đang bị tạm giam nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 0,203 gam Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy; số tiền 100.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Nguyễn Mạnh T, T khai không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, khi mua ma túy không có ai chứng kiến, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H chưa có căn cứ xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Mạnh T và Ngô Văn T1: Cơ quan Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

quyÕt ®Þnh:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2019.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu cho tiêu hủy: 0,254 gam (không phẩy hai năm bốn gam) trong một phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của PC09 - Công an tỉnh Hưng Yên ghi thu của Nguyễn Mạnh T.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng chẵn) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thu giữ của Nguyễn Mạnh T.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKS ngày 30/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu 200.000đ (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Mạnh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ