vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2019.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thể nhớ Sandisk. (Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 130/PNK ngày 04/6/2018) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thi L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2019.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày 20 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Cao Đức

Bà Nguyễn Thị Kính

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại tr s Tòa án nh n d n Qu n 8 Thành phố

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L; sinh ngày 19 tháng 9 năm 1985, tại An Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M huyện C tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: Không biết chữ; d n tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Ph t; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Thạch Thị S (chết); ch ng con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 07/11/2019 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Chị uỳnh Thị Ngọc Th sinh năm 1988; nơi cư trú: Block B1.11.14 Chung cư T đường C Phường 4 Qu n 8 Thành phố Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị L là người làm công theo giờ cho gia đình chị uỳnh Thị Ngọc Th tại nhà số B1.11.14 Chung cư T đường C, Phường 4 Qu n 8 Thành phố Chí Minh. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 23/3/2018 chị Th điện thoại kêu L đến ph dọn dẹp nhà khoảng 12 giờ 30 cùng ngày thì L đến nhà chị Th để làm việc. Khoảng 15 phút sau trong lúc L đang dọn dẹp do có công việc nên chị Th đi ra ngoài. Lợi d ng trong lúc chị Th đi ra khỏi nhà, L nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định L tìm kiếm và phát hiện trong ngăn kéo bàn trang điểm của chị Th có 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen nên L chiếm đoạt và cất giấu vào áo khoác của mình. Sau khi chiếm đoạt được tài sản L vẫn tiếp t c công việc dọn dẹp tại nhà chị Th, đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, L xin phép chị Th đi về nơi làm việc và mang theo chiếc điện thoại lấy trộm được.

Khoảng 22 giờ ngày 23/3/2018 chị Th phát hiện bị mất điện thoại, qua kiểm tra camera chị Th phát hiện điện thoại bị L lấy trộm nên đến Công an Qu n 8 trình báo. V việc được l p h sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 điều tra, làm rõ.

Sau khi trộm được tài sản L biết nhà chị Th có gắn camera và lo sợ bị phát hiện nên ngày 30/3/2019, L gặp và đưa điện thoại di động đã trộm cắp của chị Th cho bà Nguyễn Thị Kim N (là mẹ ch ng của L chung sống không đăng ký kết hôn) để nhờ bà N giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an Qu n 8.

Ngày 27/4/2018 ội đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết lu n: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen có giá trị là 8.500.000 đ ng.

Qua điều tra xác minh Cơ quan điều tra đã kh i tố v án kh i tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Thị L về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Do Lan bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã. Ngày 07/11/2019 Nguyễn Thị L bị bắt theo quyết định truy nã. Quá trình điều tra L đã khai nh n hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về trách nhiệm d n sự: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trao trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen cho chị uỳnh Thị Ngọc Th. Chị Th không yêu cầu bị cáo b i thường thiệt hại.

V t chứng tạm giữ trong v án: 01 (một) thẻ nhớ Sandisk 8GB có chứa đoạn video ghi nh n hình ảnh Nguyễn Thị L trộm cắp tài sản do chị uỳnh Thị Ngọc Th giao nộp.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 15/01/2020 Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8, Thành phố Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố

Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi ph n tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị ội đ ng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 09 đến 15 tháng tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Do bị hại không yêu cầu bị cáo b i thường thiệt hại nên không xem xét. Về v t chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp lu t.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa ội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 23/3/2018 tại số B1.11.14 Chung cư T đường C Phường 4 Qu n 8 Thành phố Chí Minh bị cáo Nguyễn Thị L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen trị giá 8.500.000 đ ng của chị uỳnh Thị Ngọc Th, hành vi của bị cáo đã kịp thời bị phát hiện và bị Công an bắt giữ.

Điều 173 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp lu t bảo vệ. Như v y ội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

ành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ích có ý thức tu n theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn khỏi nơi cư trú và bị cơ quan điều tra truy nã đã g y khó khăn cho công tác điều tra truy tố. Do đó khi lượng hình ội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện giao lại tài sản chiếm đoạt để cơ quan điều tra trả lại cho bị hại thuộc trường hợp “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” và “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Vì v y, ội đ ng xét xử áp d ng các điểm b, h i s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên ội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về v t chứng v án quá trình điều tra Cơ quan điều tra tạm giữ 01 thẻ nhớ Sandisk chứa hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do bị hại giao nộp bị hại không có yều cầu nh n lại đ ng thời các hình ảnh lưu trữ trong thẻ nhớ đã được chuyển hóa thành chứng cứ và được bị cáo thừa nh n thể hiện trong h sơ v án. Do đó căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm d n sự do bị hại không có yêu cầu bị cáo b i thường thiệt hại nên ội đ ng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2019.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thể nhớ Sandisk.

(Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 130/PNK ngày 04/6/2018)

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị L nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ