- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "THU - NHƠN"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NK THÀNH PHỐ CT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HNST Ngày: 05/3/2020 V/v "Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Q
Các Hội thẩm: 1. Bà Nguyễn Lệ H
2. Ông Lê Anh K
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ T – Thư ký Tòa án nhân dân quận NK.
Trong ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận NK xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 379/2019/TLST-HN ngày 10 tháng 7 năm 2019 về việc: "Xin ly hôn".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2020/QĐST-HN ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận NK, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị Cẩm T sinh năm 1993 – Có mặt
Địa chỉ: 397, KV. Cái Sơn, P. Thới Long, Q. OM, TP. CT.
Bị đơn: Ông Trang Tấn N, sinh năm 1982 – Vắng mặt
Địa chỉ: 49/8, khu vực 3, P. An Khánh, Q. NK, TP. CT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:
Năm 2011 bà và ông N tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 09/01/2013 tại UBND phường An Khánh, Q. NK, TP. CT. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên khoảng năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông N không chăm lo cho cuộc sống vợ chồng và các con, đời sống chung không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau. Bà T và ông N không còn sống chung từ năm 2015 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T xin được ly hôn với ông N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông N có 02 con chung tên Trang Kim C (nữ) sinh ngày 07/8/2015 và Trương Tấn H (nam) sinh ngày 31/8/2012. Bà T đồng ý giao cháu H cho ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng. Bà T yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu C, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trang Tấn N đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn căn cứ tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận NK.
- Về vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt cho bị đơn thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn tham dự phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Cẩm T và ông Trang Tấn N xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường An Khánh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/01/2013. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2015 giữa ông bà thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm không thể hòa giải và hàn gắn được. Vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được cho nên giữa bà T và ông N không còn chung sống từ năm 2015. Bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông N. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà T và ông N không còn sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất cho bà T và ông N ly hôn.
- Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Trang Kim C (nữ) sinh ngày 07/8/2015 và Trương Tấn H (nam) sinh ngày 31/8/2012. Bà T đồng ý giao cháu H cho ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng và tại bản tự khai cháu Trương Tấn H có nguyện sống cùng với cha là ông N. Bà T yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu C, không yêu cầu ông N cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy bà T và ông N có 02 con chung và giao cháu Kim C là nữ cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp. Ông N nuôi cháu H.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do xét xử vắng mặt ông N nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 121, khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trương Thị Cẩm T được ly hôn với ông Trang Tấn N.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Tấn H (nam) sinh ngày 31/8/2012 cho ông Trang Tấn N nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.. Giao cháu Trang Kim C (nữ) sinh ngày 07/8/2015 cho bà Trương Thị Cẩm T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con cho bà T và ông N.
Dành quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông N, bà T không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Do xét xử vắng mặt ông N nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp giải quyết thành vụ kiện khác.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 008017 ngày 29/5/2019 do Chi cục Thi hành án dân sự quận NK đã thu sang thành án phí.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP. CT; - VKSND quận NK; - Chi cục THADS quận NK; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Q |