- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh T được ly hônchị Trịnh Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH-TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 7năm 2020 (V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Vân; Ông Đặng Viết Côi.
- Thư ký phiên tòa:Bà Tưởng Thị Lan,Cán bộ Tòa án ND huyện Ứng Hoà. -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện UH tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến -Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện UHxét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số:115/2020/TLST- HNGĐ ngày13tháng5năm 2020về Tranh chấp Hôn nhân và gia đìnhtheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày16 tháng6năm2020và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2019/QĐHPT-HNGĐ ngày 02 tháng7 năm 2020giữa các đương sự: *Nguyên đơn:AnhNguyễn Mạnh T - sinh năm 1990; Nguyên quán và nơi ĐKHKTT: thôn ĐL, xã DM, huyện DT, tỉnh Hà Nam. *Bịđơn:ChịTrịnh Thị T-sinh năm 1995; Nguyên quán và chỗ ở hiện nay: thôn KV, xã ĐT, huyện UH,Thành phốHà Nội.Nơi ĐKHKTT: thôn ĐL, xã DM, huyện DT, tỉnh Hà Nam.
(Anh Tcóđơn xinvắngmặt;chị Tvắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai, anh Nguyễn Mạnh T là nguyên đơn trình bày:anhvà chị Trịnh Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT năm 2016. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2018 thì mâu thuẫncăng thẳng. Do mâu thuẫn căng thẳng nên hai vợ chồng tôi sống ly thân từ tháng 9/2019 cho đến nay và không ai quan tâm đến ai. Nay anh nhận thấy anh không còn tình cảm với chị T, nên anh xin được ly hôn với chị T để ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung: Nguyễn T Anh - sinh ngày 12/9/2016, hiện đang ở với anh. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T có quan điểm đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải giữa hai vợ chồng anh, anh vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa.
Theo Biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị Thanh là mẹ đẻ chị Trịnh Thị T trình bày: sau khi kết hôn chị T chuyển hộ khẩu và chuyển về sinh sống với chồng là anh Nguyễn Mạnh T tại nhà chồng ở thôn ĐL, xã DM, huyện DT, tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, sau khi có mâu thuẫn vợ chồng chị T bỏ về sinh sống cùng gia đình bà ở thôn KV, xã ĐT, huyện UH, thành phố Hà Nội từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Chị T hiện đang làm nhân viên văn phòng tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện DT, tỉnh Hà Nam, sáng đi tối về. Bà nhận trách nhiệm giao lại các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị T ngay trong ngày. Về mâu thuấn vợ chồng anh T chị T bà chỉ biết anh T và chị T xảy ra mâu thuẫn từ lâu, khoảng từ tháng 7 năm 2019, tuy nhiên mâu thuẫn cụ thể như nào bà không biết. Anh T và chị T có 01 con chung: Nguyễn T Anh, sinh ngày 12/9/2016. Thời gian trước bà trực tiếp chăm sóc cháu nội, khoảng vài tháng gần đây anh T đón cháu về nhà nội chăm sóc. Việc giải quyết ly hôn giữa anh T và chị T quan điểm bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 15/5/2020: Chính quyền địa phương xã ĐT cung cấp: chị Trịnh Thị T, sinh năm 1995 là người ở thôn KV, xã ĐT, huyện UH có đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1990 vàongày 09/4/2016 tại UBND xã ĐT. Sau khi kết hôn chị T chuyểnhộ khẩu và về chung sống với anh T cùng gia đình anh T ở tại thôn ĐL, xã DM, huyện DT, tỉnh Hà Nam.Tuy nhiên, từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay, chị T đã chuyển về sinh sống thường xuyên tại nhà bố mẹ đẻ ở thôn KV, xã ĐT, huyện UH, thành phố Hà Nội. Về mâu thuấn vợ chồng anh T chị T như thế nào chính quyền địa phương không nắm được, chỉ biết anh T và chị T có mâu thuẫn nên chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đầu năm 2020 cho đến nay. Anh T và chị T có 01 con chung như anh T và bà Thanh trình bày ở trên. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị T, quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật bảo đảm quyền lợi cho các công dân.
Tại phiên tòa, anh T và chị T đều vắng mặt, anh T có đơn trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên ý kiến như nội dung trình bày tại Tòa trước đây và không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện UHphát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tiến hành các thủ tục theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết cho anh T được ly hôn với chị T; giao con chung Nguyễn T Anh cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. anh T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Mạnh T làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân huyện UH tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền, Tòa án đã triệu tập chị T đến Tòa để hòa giải và tham gia phiên toà nhưng chị Tkhông hợp tác, không chấp hành, anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh T và chị Trịnh Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐTngày 09/4/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Hai vợ chồng đã có thời gian dài sống ly thân, anh T cương quyết xin được ly hôn với chị T. Đối với chị T trong suốt quá trình triệu tập đến Tòa và thông báo hòa giải, làm việc và phiên tòa chị T đều không đến Tòa, vắng mặt không có lý do, thể hiện không hợp tác.
Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn vợ chồnggiữa chị T với anh T là căng thẳng, đã sống ly thân gần 01 năm, hôn nhân giữa hai vợ chồng thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, không còn gắn kết đời sống chung, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của anh T, xử cho anh T được ly hôn với chị T là phù hợp với quy định củakhoản 1 Điều 56Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: anh T và chị T có 01 con chung là Nguyễn T Anh - sinh ngày 12/9/2016, hiện đang ở với anh T; Anh T có nguyện vọng sau khi ly hôn được nuôi dưỡng con chung Nguyễn T Anh và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con cho mình. Xét,chị T không đến Tòa để trình bày nguyện vọng, cháu Nguyễn T Anh đã trên 36 tháng tuổi và hiện đang ở với bố, do đó sau ly hôn nên giao con chung cho anh Tlà người trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật; anh T không có yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị T cho đến khi có thay đổi hoặc có đề nghị mới là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Nguyễn Mạnh T không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết. Trường hợp sau ly hônchị T có yêu cầu, đề nghị giải quyết về việc liên quan đến tài sản, công nợ chung của hai vợ chồng thì dành quyền khởi kiện cho chị T trong vụ án khác.
Về án phí và quyền kháng cáo: AnhNguyễn Mạnh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáotheo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh T được ly hônchị Trịnh Thị T.
2. Về con chung: Anh Nguyễn Mạnh T và chị Trịnh Thị T có 01 con chung: Nguyễn T Anh, sinh ngày 12/9/2016. Sau ly hôn giao con chung Nguyễn T Anh cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị T cho đến khi có yêu cầu, đề nghị mới hoặc có sự thay đổi khác. Sau ly hôn chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
“Cha, mÑ kh«ng trùc tiÕp nu«i con l¹m dông viÖc th¨m nom ®Ó c¶n trë hoÆc g©y ¶nh h ëng xÊu ®Õn viÖc tr«ng nom, ch¨m sãc, nu«i d ìng, gi¸o dôc con th× ng êi trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn yªu cÇu Toµ ¸n h¹n chÕ quyÒn th¨m nom con cña ng êi ®ã”.
3.Về tài sản, công nợ chung: anh Nguyễn Mạnh T không yêu cầu giải quyết.
4.Về án phí: Anh Nguyễn Mạnh T phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009645ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện UH, thành phố Hà Nội.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi thường trú./. N¬i nhËn:
| - TAND TP Hµ Néi; - VKSND huyÖn øng Hoµ; - Chi côc THA.DS huyệnøng Hoµ; - UBND xã nơi Đăng ký kết hôn; - C¸c ® ¬ng sù; - L u h/s; v/p./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |