- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị S- Nguyễn Chí Th"
- Tòa quyết gì? Căn Điều 35, Điều 184, Điều 186, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| 1Bản án số: 14/2020/DS-ST Ngày: 28 -02 -2020 V/v: Đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ Tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông La Văn Việt
2.Bà Nguyễn Thị Rạt
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2020/TLST- DS ngày 03 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXX-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1939. Địa chỉ: Ấp TL, xã KL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị S là bà Nguyễn Thị Kim Ch, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ô 6, Khu B, thị trấn HN, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (có mặt).
2.Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Chí Th, sinh năm 1979 (vắng mặt)
2.2. Bà Phan Thị V, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Bình Tiền 2, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long
An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 12 năm 2019, trong những lời khai tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị S do bà Nguyễn Thị Kim Ch đại diện trình bày:
Bà Nguyễn Thị S với bên ông Nguyễn Chí Th có mối quan hệ họ hàng (ông Th kêu bà S bằng dì ruột) nên vào tháng 02/2019 bà Sứ có cho ông Th mượn 150.000.000 đồng và 01 lượng vàng 9999. Bên ông Th hẹn đến tháng 10 năm 2019 sẽ trả nhưng đến hạn không trả. Do đó bà đại diện cho bà Sứ yêu cầu ông Nguyễn Chí Th và vợ là Phan Thị V liên đới trả cho bà Nguyễn Thị S 150.000.000 đồng và 01 lượng vàng 9999.
Bị đơn ông Nguyễn Chí Th và Phan Thị V trình bày: ông bà có thừa nhận có mượn của bà Nguyễn Thị S 150.000.000 đồng và 01 lượng vàng 9999 nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi hết số nợ.
Đại diện nguyên đơn: không đồng ý với yêu cầu xin trả dần của phía bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án: “Đòi tài sản” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Các ông bà Nguyễn Chí Th và Phan Thị V có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà. Bà S cho rằng bị ông Th và bà V xâm phạm quyền lợi của bà nên bà có quyền khởi kiện theo quy định Điều 186 BLTTDS.
[2] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà Ch đại diện bà S và lời trình bày của ông Th và bà V có trong hồ sơ và tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào tháng 02/2019, ông Th và bà V có thỏa thuận với bà S mượn số tiền 150.000.000 đồng và 01 lượng vàng 9999 hẹn đến tháng 10/2019 sẽ trả. Các đương sự đều thừa nhận việc này nên Hội đồng xét xử công nhận đây là tình tiết sự thật của vụ án không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Các vấn đề tranh chấp: bà V và ông Th xin trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng nhưng không được sự đồng ý đại diện nguyên đơn. Do đó cần buộc ông Th và bà V phải trả cho bà Sứ 150.000.000 đồng và 01 lượng vàng 9999 là phù hợp với Điều 166 Bộ luật dân sự 2015.
[5] Về án phí: Bà V và ông Th liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Giá vàng làm căn cứ tính án phí tại thời điểm xét xử là 46.000.000 đồng/lượng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn Điều 35, Điều 184, Điều 186, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 2014 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S tranh chấp đòi tài sản với ông Nguyễn Chí Th và Phan Thị V.
Buộc ông Nguyễn Chí Th và bà Phan Thị V trả cho bà Nguyễn Thị S 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và 01 lượng vàng 9999.
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành đối với số tiền 150.000.000 đồng.
2/Về án phí: Buộc ông Nguyễn Chí Th và bà Phan Thị V liên đới nộp 9.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước. Bà S được miễn án phí nên không xem xét.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -Các đương sự; -TAND Tỉnh Long An; -VKSND huyện Đức Hòa; -Chi cục THA huyện Đức Hòa; -Lưu. | (Đã ký) Nguyễn Thị Mộng Thúy |