vanban.org

Bản án 14/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 04/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn M (tên gọi khác: Bé) phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ Luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lương Văn M 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường LT quận BT, thành phố Cần Thơ nhận được quyết định thi hành án và bản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lương Văn M - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn M (tên gọi khác: Bé) phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HSST
Ngày: 04-7-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Hằng

2. Ông Trần M Quang

Thư ký phiên toà: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Nghiên, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2019/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

Lương Văn M (Tên gọi khác: Bé), sinh ngày 08/01/1988; Nơi cư trú: khu vực A, phường LT, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn M và bà Nguyễn Thị P; Bị cáo có 02 anh em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo. Có vợ là Lê Thị Ánh Tt; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án: không; Tiền sự: không. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968 ( mẹ ruột của bị cáo). Có mặt

ĐKHK: Khu vực A, phường LT, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện nay: Khu vực B, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Nguyễn Văn U (tên gọi khác: Chín C) sinh năm: 1963. Có mặt

Địa chỉ: Khu vực B, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Trần Phước N, sinh năm: 1969. Có mặt

Địa chỉ: Khu vực B, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Người làm chứng:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1990. Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp 4, xã TH, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Nguyễn Văn I, sinh năm: 1939. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu vực B, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

Trần Thị L, sinh năm: 1980. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu vực B, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

Nguyễn Đông H, sinh năm: 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp 10, xã VT, huyện VT, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2019, bà Nguyễn Thị P đến thuê phòng trọ tại nhà trọ Ngọc Tuyền do ông Trần Phước N làm chủ để ở và buôn bán. Trong quá trình buôn bán, ông Nguyễn Văn U ( Chín C) thường đến quán nên quen biết và nảy sinh tình cảm với bà P.

Sau khi từ thành phố Cần Thơ đến thành phố Vị Thanh và thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang uống bia cùng với một số người bạn, khoảng hơn 00 giờ ngày 27/3/2019, Lương Văn M (Bé), điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đông H về phòng trọ Ngọc Tuyền để tìm mẹ ruột tên Nguyễn Thị P xin ngủ nhờ. Khi đến nơi M thấy cửa phòng đóng nhưng trong phòng trọ vẫn mở đèn, M kêu bà P mở cửa nhưng do cửa bị kẹt khóa nên bà P không mở cửa được liền. M nhìn qua khe cửa thì thấy ông Nguyễn Văn U đang ở trong phòng cùng bà P, thấy vậy, M bực tức nên lấy 02 cái lò than đá rồi lần lượt chọi vào cửa phòng làm kính thủy tinh trên cửa bị bể, tấm kim loại trên cửa bị cong biến dạng. Lúc này, bà P mở được khóa cửa, M vào phòng dùng vật dụng trong phòng chọi ông U nhưng không trúng, sau đó ông U bỏ chạy ra ngoài trốn. Khi đó, M thấy xe mô tô, biển kiểm soát 95M2- 4174 của ông U nên M dắt xe ra dựng trên lộ phía trước phòng trọ rồi dùng 02 tay giật yên xe lên, mở nắp bình xăng ra và dùng chân đạp xe ngã nằm trên lộ, M lấy hộp quẹt zippo đang để trong túi quần ra, quẹt lửa cháy rồi ném hộp quẹt vào vị trí xe, làm xe của ông U bị cháy rồi bỏ trốn.

Tại bản kết luận định giá tài sản của UBND thị xã Long Mỹ ngày 04/4/2019 kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.730.000 đồng.

Tại cáo trạng số 15/CT-VKS-TXLM ngày 07 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ đã quyết định truy tố bị cáo Lương Văn M về Tội hủy hoại tài sản theo quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Lương Văn M đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn M về tội hủy hoại tài sản, mức hình phạt từ 06-9 tháng cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự. Bị cáo đã khắc phục xong cho các bị hại nên không xem xét.

Bị cáo Lương Văn M tại phiên tòa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện phụ giúp cho gia đình.

Người bị hại Nguyễn Văn Út, Trần Phước N, Nguyễn Thị P yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường xong nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, vắng mặt những những người làm chứng Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn I, Trần Thị L, Nguyễn Đông H, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sự xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng trên.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Long Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ thể hiện trong H sơ, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: khoảng hơn 00 giờ ngày 27/3/2019, Lương Văn M đến nhà mẹ ruột là Nguyễn Thị P để xin ngủ nhờ, khi đến nhà trọ bị cáo thấy bà P đang ở cùng với ông Nguyễn Văn Út trong phòng nên bị cáo tức giận lấy 02 cái lò than đá lần lượt chọi vào cửa phòng làm kính thủy tinh trên cửa bị bể, tấm kim loại trên cửa bị cong biến dạng, sau đó bị cáo dắt chiếc xe mô tô của ông U đang dựng trong phòng trọ ra trước cửa phòng trọ rồi đốt cháy. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.730.000 đồng. Như vậy hành vi trên của bị cáo Lương Văn M đã đủ yếu tố cấu thành “Tội hủy hoại tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó có thể khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lương Văn M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi cố ý hủy hoại tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, được pháp luật bảo vệ, nhưng bị cáo vì thỏa mãn cơn tức giận cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự nếp sống văn minh của địa phương, tội phạm đã hoàn thành nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Lương Văn M, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình gây ra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong cho những người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa người bị hại cũng yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có trình độ học vấn thấp 01/12 đây là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Lương Văn M cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Từ những nhận định trên hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho địa phương và gia đình giám sát giáo dục, cải tạo bị cáo cũng đã đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội, ngoài ra cũng thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội.

Xét thấy bị cáo hiện nay thu nhập không ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ nên hội đồng xét xử thống nhất không khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục xong, người bị hại Nguyễn Văn U, Trần Phước N, Nguyễn Thị P không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy vật chứng thu giữ trong vụ án không có giá trị sử dụng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2019 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Long Mỹ và chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Văn M phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn M (tên gọi khác: Bé) phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ Luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Lương Văn M 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường LT quận BT, thành phố Cần Thơ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lương Văn M cho Ủy ban nhân dân phường phường Long Tuyền giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Lương Văn M có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Văn U, Trần Phước N, Nguyễn Thị P không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng - bạc, trên nón có chữ Thiên Phúc. Tình trạng hư hỏng: Mũ đã bị cháy biến dạng.

- Nhiều mãnh vở thủy tinh (loại thủy tinh bông) không rõ hình dạng, kích thước, có tổng trọng lượng 3,4kg.

- 01 (một) cái lò xi măng, mặt ngoài viền kim loại, đường kính 26cm, cao 28cm, đã qua sử dụng. Tình trạng lò bị bể, không sử dụng được.

- 01 (một) cái lò xi măng, mặt ngoài viền kim loại, đường kính 33cm, cao 28cm, đã qua sử dụng. Tình trạng lò bị bể, không sử dụng được.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2019 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Long Mỹ và chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ).

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quan lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/7/2019).

TM. HỘI

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ