vanban.org

Bản án 14/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 08/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.

Giao bị cáo Phạm Thị H cho Uỷ ban nhân dân phường Phù Đổng, thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm Thị Hiền Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HSST
Ngày: 08- 3 -2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Thắng

2. Bà Triệu Thị Danh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Năng Quân - Thư ký Toà án nhân dân huyện E.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên tòa: Ông Y Đum Kpă - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2019, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện EaH’Leo, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/HSST, ngày 24 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị H; sinh năm 1990, tại tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 47, N, Tổ 17, Phường P, thành phố K, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị H; có chồng Phan Phụng L - sinh năm 1987. Bị cáo có 3 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 11 năm 2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời làm chứng:

- Ông Lê Văn H, sinh năm 1976; Địa chỉ: thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Ông Phan Ngọc T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Ông Phạm Bá M, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn 3, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 30 tháng 10 năm 2018, Phạm Thị H đang ở huyện C, tỉnh Gia Lai thì có một người đàn ông tên P (người mà H quen biết trước đó) dùng số điện thoại thuê bao 0978782099 gọi vào điện thoại di động của H có số thuê bao 0986805709, thuê H vận chuyển pháo nổ từ tỉnh Kon Tum đến bến xe thành phố B, tỉnh Đăk Lăk với giá 2.000.000 đồng thì H đồng ý. P nói với H là Pg gửi pháo cho nhà xe Đ chạy hướng Bắc Nam. Khi xe đến huyện C, tỉnh Gia Lai thì xe sẽ đón H để H vận chuyển pháo đến B.

Vào khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, xe ô tô khách biển số kiểm soát 49B

- 010.35 của nhà xe Điền Linh, do ông Lê Văn Hợp điều khiển, đến đoạn đường thuộc huyện N, tỉnh Kon Tum thì xe dừng lại nhận hàng của khách. Tại đây, Phạm Bá M là phụ xe có nhận 01 thùng giấy các tông được dán kín từ một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch). Khi nhận hàng, M có hỏi là hàng gì thì người đàn ông trên nói là đồ phụ nữ gửi cho con em.

Đến khoảng 0 giờ 15 phút, ngày 31 tháng 10 năm 2018, thì xe đến huyện C, tỉnh Gia Lai đón Phạm Thị H. Khi lên xe, Hiền hỏi M đã nhận hàng chưa thì Mạnh nói nhận rồi và chỉ cho H thùng các tông để trong khoang hành lý.

Đến 01 giờ 30 phút ngày 31 tháng 10 năm 2019, khi xe Đ biển số 49b-010.35 đến KM 645, đường Hồ Chí Minh, đoạn đường thuộc thôn 4, xã K, huyện E, tỉnh Đăk Lăk thì Công an huyện E phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đăk Lăk tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong thùng hàng của Phạm Thị H có 10 khối hộp kích thước (17 x 17 x 10)cm, bên trong có 49 trụ hình tròn liên kết với nhau; 02 khối hộp hình trụ có kích thước (40 x 40 x 7,5) cm, nên đã lập biên bản đối với Phạm Thị H và thu giữ toàn bộ số hàng trên cùng 01 điện thoại di động hiệu Intel gắn thẻ sim số 0986805709 và được niêm phong theo quy định.

Tại biên bản kết luận giám định số 863/C09C, ngày 09 tháng 11 năm 2018, của Phân viện hoa học hình sự tại Thành phố Đã Nẵng kết luận: 10 khối hộp, kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, tổng khối lượng là 17,8 kg; 02 khối hộp hình trụ có kích thước (40 x 40 x 7,5) cm, đầu mỗi vật có gắn đạon dây màu xám được kết với nhau thành tràng đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 7,4 kg. Tổng khối lượng còn lại sau giám định của 12 khối hộp trên là 21,44kg.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E có Công văn đề nghị tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội Viettel xác định cuộc gọi đến và đi của thuê bao số 0986865709 vào ngày 30 tháng 11 năm 2018 và tìm chủ sở hữu số thuê bao 0978782099. Tại Công văn số 03/DLK-TH ngày 03 tháng 01 năm 2019 của Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel xác định số thuê bao 0988782099 mà Phạm Thị H cho rằng người đàn ông tên P dùng để liên lạc với Hiền trao đổi việc vận chuyển pháo là của bà Từ Thị T, ở thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành xác minh đối với Từ Thị T, ở tại thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk thì chính quyền địa phương xác định bà T hiện nay không có ở địa phương, không biết đi đâu và làm gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành xác minh đối với người đàn ông tên P, ở huyện N, tỉnh Kon Tum nhưng không có kết quả.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện E, đã truy tố bị cáo Phạm Thị H về tội: "Vận chuyển hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E đưa ra các chứng cứ buộc tội và đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 23 tháng 01 năm 2019, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án Tòa tuyên.

Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khỏan 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Intel của Phạm Thị H sử dụng để liên lạc vận chuyển pháo;

Tịch thu tiêu hủy 21,44 kg pháo nổ còn lại sau giám định; 01 thẻ sim điện thoại số 0986805709 của Phạm Thị H dùng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm vật chứng như các tài liệu lưu tại hồ sơ vụ án).

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Vào khoảng từ 15 giờ ngày 30 tháng 10 năm 2018 đến 1 giờ 30 phút ngày 31 tháng 10 năm 2018, Phạm Thị H đã có hành vi vận chuyển 25,2 kg pháo nổ.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Nhận thấy, khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m t ội, bị cáo là người có đầy đủ nhận thức để biết được vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, do động cơ tham lam, hám lợi và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện E đối với bị cáo Phạm Thị H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Tại điểm c, khoản Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 304, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phát tù từ 6 tháng đến 3 năm:

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”....

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Như vậy, trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử cần áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiên trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hiện bị cáo đang phải trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 03 con nhỏ, do chồng bị cáo đang làm ăn xa. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đồi sống xã hội mà chỉ cần áp dụng biện pháp có điều kiện cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên P, ở huyện N, tỉnh Kon Tum và chủ thuê bao số điện thoại 0978782099 mang tên Từ Thị T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả nên không có căn cứ xử lý.

. Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Cần Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Intel của Phạm Thị H sử dụng vào việc phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 21,44 kg pháo nổ còn lai sau giám định; 01 thẻ sim điện thoại số 0986805709 của Phạm Thị H dùng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm vật chứng như các tài liệu lưu tại hồ sơ vụ án).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 2 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thị H cho Uỷ ban nhân dân phường Phù Đổng, thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã hưởng án treo.

Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khỏa 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Intel của Phạm Thị H sử dụng vào việc phạm tội;

Tịch thu tiêu hủy 21,44 kg pháo nổ còn lai sau giám định; 01 thẻ sim điện thoại số 0986805709 của Phạm Thị H dùng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm vật chứng như các tài liệu lưu tại hồ sơ vụ án).

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ