- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2019/HSST Ngày: 18/4/2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trƣờng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Bình.
2. Ông Trƣơng Văn Hoà.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2013/HSST ngày 08 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Anh T, sinh năm 1991, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp 2, xã B, huyện LT, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T, sinh năm 1955 và bà Lê Thị L, sinh năm 1961(Chết); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 14/01/2019. Đến ngày 17/01/2019 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Mỹ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Bà M T B, sinh năm 1967 Nơi cư trú: ấp 2, xã XĐ, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng: 1) Anh Nguyễn T P, sinh năm 1988 Nơi cư trú: ấp 2, xã XĐ, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. 2) Chị Trần T T, sinh năm 1980 Nơi cư trú: ấp 3, xã TĐ, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
(Bà B, anh P có đơn xin vắng mặt, Chị T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 12/01/2019, Trần Anh T đi bộ từ ấp 4, xã T Đ đến cửa hàng xăng dầu Châu Loan thuộc ấp 3, xã T Đ, huyện Cẩm Mỹ để đón xe buýt đi thị xã Long Khánh. Lúc này, bà M T B, sinh năm 1967 ngụ ấp 2, xã X Đ, huyện Cẩm Mỹ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future FI, màu đỏ đen, biển số 60B6-570.20 đến mua xăng. Bà B dựng xe trước máy bơm xăng để đi vệ sinh, chìa khóa cắm sẵn trên xe. Thấy xe không có người trông coi, T liền nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đi lại gần, leo lên xe, nổ máy, điều khiển xe bỏ chạy về hướng huyện LT.
Khi đến con hẻm thuộc thị trấn L, huyện L T thì Tuấn dừng lại, mở cốp xe phát hiện 01 cái ví da màu đỏ, bên trong có 01 giấy đăng ký và 01 giấy bảo hiểm xe mô tô Honda Future FI, biển số: 60B6-570.20; 01 giấy phép lái xe hạng A1; 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên M T B nên vứt bỏ rồi tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi bà B đi vệ sinh xong, phát hiện xe mô tô bị kẻ gian lấy trộm nên gọi điện thoại cho anh Nguyễn T P (là con trai bà B) biết. Anh P điều khiển xe mô tô đi vòng quanh khu vực thị trấn L để tìm kiếm thì thấy T nên điều khiển xe áp sát rồi dùng chân đạp vào xe mô tô do T điều khiển làm T ngã xuống đường. Hai bên cãi nhau một lúc thì T bỏ xe lại và đi bộ về phía con hẻm gần đó rồi trốn thoát. Đến ngày 14/01/2019, T đã đến Công an huyện Cẩm Mỹ đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG ngày 15/01/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ xác định: Xe mô tô hiệu Honda Future FI, màu đỏ đen, biển số: 60B6-570.20 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 29.700.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 14/CT-VKSCM ngày 08 tháng 3 năm 2019,
về tội “T
quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay;
* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
* Bị hại và những người làm chứng vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận và nhận thấy về hành vi của mình là sai, kinh xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2
đã thừa nhận vào khoảng 12 giờ ngày 12/01/2019, tại cửa hàng xăng dầu Châu Loan thuộc ấp 3, xã T Đ, huyện Cẩm Mỹ, Trần Anh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Future FI, màu đỏ, biển số 60B6-570.20 trị giá 29.700.000 đồng của bà M T B, sau đó bị anh Nguyễn T P đuổi bắt nên T để xe lại rồi tẩu thoát. Đến ngày 14/01/2019, T đến Công an huyện Cẩm Mỹ đầu thú.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo:
Qua hành vi phạm tội đã thể hiện bị cáo ý thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã bất chấp tất cả, dấn thân vào con đường phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sự sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét cần phải xử lý nghiêm, tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt; có địa chỉ nơi thường trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được, nên không cần cách ly bị cáo với xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục cũng đủ sức phòng ngừa và răn đe, cải tạo bị cáo thành người biết tuân thủ pháp luật.
Ngoài hình phạt chính bị cáo Trần Anh T còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo làm thuê nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, những giấy tờ tùy thân và giấy đăng ký xe bà Bích tự nguyện liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm lại và không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ đã trả lại cho bà M T B 01 xe mô tô hiệu Honda Future FI, màu đỏ, biển số 60B6-570.20, bà B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, khoản 4 Điều 328, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Anh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Anh T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Anh T, nếu bị cáo T không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Về án phí: Bị cáo Trần Anh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt ñöôïc quyeàn khaùng caùo trong haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy Toøa aùn toáng ñaït baûn aùn hôïp leä.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - Công an huyện Cẩm Mỹ; - THADS huyện Cẩm Mỹ; - Trại tạm giam Công an huyện Cẩm Mỹ; - UBND xã B, huyện L T, tỉnh Đồng Nai - Bị cáo; bị hại; - Lưu HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Trƣờng |