vanban.org

Bản án 14/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 29/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: tuyên bố: bị cáo Đỗ Tiến D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Tiến D 8 ( Tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã C, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Tiến D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử: tuyên bố: bị cáo Đỗ Tiến D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2019/HS-ST
Ngày: 29/3/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Thuật

Bà Ngô Thị Kim Quế

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải – Thư ký Tòa án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì , TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Vì, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: ĐỖ TIẾN D – Sinh 1999; Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C, sinh năm 1975 và bà Đào Thị U, sinh năm 1975; Vợ; con: chưa; Tiền án ; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

2. Bị hại: Nguyễn Quốc K – sinh 1999

TQ: Thôn K, xã C, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội.

( bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 7 h 20 phút ngày 29/11/2018 Đỗ Tiến D đi xe máy một mình từ nhà đến nhà Nguyễn Quốc K để chơi. Tới nơi, thấy cửa cổng và của nhà K không khoá, chỉ khép hờ nên D tự mở cửa đi vào nhà. Quan sát ở phòng khách không có ai, D đi vào phòng ngủ cạnh phòng khách thì thấy K đang nằm ngủ ở trên giường, sát chỗ K nằm có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus màu xám đen. Do không thấy ai ở nhà, K thì đang ngủ, thấy có nhiều sơ hở nên D đã này sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại về để sử dụng. D đã tiến lại giường dũng tay phải lấy điện thoại đúc vào túi quần bồ bên trái mình đang mặc rồi đi về nhà cất giấu chiếc điện thoại vừa trộm được ở phòng ngủ của mình. Sau đó D đi đến nhà Đinh Tiến Đ để rủ Đ cùng đến nhà K với mục đích để che giấu hành vi trộm cắp trước đó. Đến khoảng 4h40 phút cùng ngày, khi D, Đ đến nhà K chơi và đánh thức K dậy thì K phát hiện mình đã bị kẻ gian lấy trộm điện thoại. K đã trình báo đến cơ quan điều tra Công an để giải quyết theo quy định.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 80/2018/KL-ĐGTS ngày 05/12/2018 kết luận: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Splus, màu xám đen, bản 16G số Seiri FCCR4DAGRWF, số Imel 355734070273409, máy đã qua sử dụng trị giá 2.650.000đ ( Hai triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng )

Về dân sự: anh Nguyễn Quốc K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì .

Tại Cáo trạng số: 18 /CT-VKS ngày 14/3/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đề nghị truy tố bị cáo Đỗ Tiến D phạm tội ”Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015;

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì giữ nguyên quan điểm tại bản cáo trạng đề nghị: Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến D từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình tiến hành tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ba Vì và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đều được thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa hôm nay có đủ có sở để xác định: Khoảng 7 h 20 phút ngày 29/11/2018 Đỗ Tiến D đi xe máy một mình từ nhà đến nhà Nguyễn Quốc K và có lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus màu xám đen, có trị giá 2.650.000đ. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Qua xem xét đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về dân sự: anh Nguyễn Quốc K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì . Do vậy, HĐXX không xem xét.

Hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 điều 173 BLHS quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chưa có thu nhập ổn định, do vậy HĐXX miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i , s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015; Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí lệ phí Tòa án.

1. Xử: tuyên bố: bị cáo Đỗ Tiến D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Tiến D 8 ( Tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã C, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. 3.Án phí: bị cáo Đỗ Tiến D phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ