- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T1 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2019/HS-ST Ngày: 29 - 01 - 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đoàn Văn Rỹ.
2/ Bà Thái Thục Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 257/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T1 (tên gọi khác: Đầu Bự); giới tính: Nam; sinh năm: 1996; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: 71B Đường D, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Ngọc Th và bà Nguyễn Thị X.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/8/2018, Chủ tịch UBND Phường C, Quận T áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn là 03 tháng.
Bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2018 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Chị Dương Ngọc H; sinh năm: 1991; nơi cư trú: 441/25 đường Ph, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 50 ngày 07/8/2018 Nguyễn Thanh T1 đi bộ ngang qua nhà số 441/25 Đường Ph, Phường C, Quận T thấy anh Dương Thọ C1 đang ăn C1m cùng con gái tên Dương Ngọc H quay lưng vào phía trong, chị H có để 01 chiếc điện thoại SamSung J7 Prime có 02 sim số 0906101328 và 01202919072 sát cửa ra vào nên T1 nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý định, T1 tiến sát cửa nhà chị H, lợi dụng lúc chị H, anh C1 mất cảnh giác, T1 đã lén lút lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần, lúc này anh C1 nhìn thấy T1 đứng ngoài cửa nên T1 giả vờ hỏi anh C1 “Có mua máy Cassette không? C1 trả lời là không”. Sau đó, T1 bỏ đi mang điện thoại về nhà cất giữ rồi ra đầu hẻm chơi thì bị Cảnh sát đặc nhiệm hình sự Hướng Nam Công an Thành phố Hồ Chí Minh đi tuần tra nghi vấn T1 nên yêu cầu T1 xuất trình giấy tờ, T1 không xuất trình được. Cảnh sát đặc nhiệm hình sự Hướng Nam Công an Thành phố Hồ Chí Minh đưa T1 về trụ sở Công an phường làm việc. T1 khai nhận hành vi vi phạm trên đồng thời giao nộp chiếc điện thoại của chị H. Cùng lúc, chị H đến Công an trình báo mất điện thoại trên. Sau đó, hồ sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận T điều tra, xử lý.
Ngày 04/10/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T kết luận chiếc điện thoại SamSung J7 Prime có trị giá 2.800.000 đồng.
Ngày 17/10/2018 Công an Quận T khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ngày 24/10/2018 bắt tạm giam đối với Nguyễn Thanh T1 về tội “Trộm cắp tài sản”.
Trách nhiệm dân sự: Công an Quận T đã lập biên bản trao trả cho bị hại chị Dương Ngọc H điện thoại trên và chị H không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 12/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Thanh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù theo khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an Quận T đã trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, khoảng 11 giờ 50 ngày 07/8/2018, Nguyễn Thanh T1 đi bộ ngang qua nhà số 441/25 Đường Ph, Phường C, Quận T thấy 01 chiếc điện thoại SamSung J7 Prime có 02 sim số 0906101328 và 01202919072 trị giá 2.800.000 đồng của chị Dương Thị Hà, T1 đã lén lút chiếm đoạt điện thoại nêu trên. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an Quận T đã trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2018.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Quận T; (2) - Chi cục THADS Quận T; (1) - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; (1) - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1) - C1 quan điều tra Quận T (Đội ĐTTH); (1) - Nhà tạm giữ Quận T; (1) - Thi hành án hình sự; (3) - Bị cáo; (1) - Những người tham gia tố tụng khác; (1) - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (16) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |