vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 13/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Anh T phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HS-ST
Ngày 13/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Ngô Văn Sang.

Bà: Phạm Hồng Thiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Anh T, sinh năm 1994, tại xã ML, huyện T1, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: thôn ĐK, xã ML, huyện T1, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Trần Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/5/2018 Công an huyện T1, tỉnh Thái Bình bắt, xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định số 136 ngày 12/6/2018; bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2018, đến ngày 20/12/2018 chuyển tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

- Những người chứng kiến:

Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1977; trú tại thôn PU, xã TT, huyện T1, tỉnh Thái Bình.

Ông Vũ Trung B, sinh năm 1964; trú tại thôn VHT, xã TH, huyện T1, tỉnh Thái Bình. (những người chứng kiến đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 08 giờ ngày 17/12/2018, Vũ Anh T thuê xe ôm của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ chở đến cổng Bệnh viện Đa khoa TN thuộc thôn VHT, xã TH, huyện T1 thì xuống xe, T trả tiền xe ôm rồi đi bộ quanh khu vực cổng Bệnh viện thì gặp và mua được 03 (ba) gói ma túy, loại heroine của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ mục đích để sử dụng. T cất ma túy vào túi quần đang mặc rồi đi bộ để tìm thuê xe ôm về nhà. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi thì bị Tổ công tác Công an huyện T1 làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực Bệnh viện Đa khoa TN, T1, Thái Bình phát hiện, yêu cầu T đứng lại chấp hành pháp luật. Tại đây, trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, tổ công tác kiểm tra người T phát hiện trong túi bên phải phía trước quần T đang mặc có 03 (ba) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong cả ba gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai nhận đó là ma túy, loại heroine của T mua về sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng trong phong bì niêm phong có chữ ký của T và những người tham gia (ký hiệu mẫu số A1), tiếp tục kiểm tra người T không phát hiện, thu giữ gì. Lực lượng công an đưa T cùng vật chứng và mời người chứng kiến về trụ sở UBND xã TH, huyện T1 để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không thu giữ gì.

Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Lời khai của những người làm chứng:

Anh Nguyễn Đình C và ông Vũ Trung B trình bày: Vào 08 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, khu vực Bệnh viện Đa khoa TN thuộc xã TH, chúng tôi được mời chứng kiến việc cơ quan công an kiểm tra người thanh niên khai tên là Vũ Anh T, sinh năm 1994, trú tại thôn ĐK, xã ML, huyện T1, tỉnh Thái Bình. Kiểm tra người T phát hiện trong túi bên phải phía trước quần T đang mặc có 03 (ba) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong cả ba gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Chúng tôi nghe T khai nhận đó là ma túy, loại heroine của T mua về sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Công an không phát hiện thu giữ gì khác. Lực lượng Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng trong phong bì niêm phong có chữ ký của T và những người tham gia. Lực lượng công an đưa T cùng vật chứng và mời người chứng kiến về trụ sở UBND xã TH để tiếp tục làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 439/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận “Chất bột màu trắng dạng cục trong Mẫu số A1 là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,3211 gam; Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSTT ngày 29/01/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình quyết định truy tố Vũ Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Kiểm sát viên đề nghị: Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Anh T đều khai nhận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, tại khu vực Bệnh viện Đa khoa TN thuộc xã TH, huyện T1, Vũ Anh T đang có hành vi tàng trữ ba gói ma túy trong túi bên phải phía trước quần T đang mặc thì bị tổ công tác Công an huyện T1 bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Anh T phù hợp và được chứng minh bằng: Lời khai của những người chứng kiến là anh Nguyễn Đình C và ông Vũ Trung B; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện T1 lập hồi 08h45 phút ngày 17/12/2018; Kết luận giám định về khối lượng, loại ma túy; Biên bản khám xét và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Vũ Anh T là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,3211 gam. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

c, Heroine, Cocain, Methaamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam;

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Vũ Anh T mắc nghiện ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, vẫn tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Do bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đều thành khẩn khai báo, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong vụ án này: Đối với người lái xe ôm chở T đi mua ma túy và người bán ma túy cho T, T không biết tên, tuổi địa chỉ và không nhớ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra Công an huyện T1 không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

Về số ma túy thu giữ cần tịch thu tiêu hủy sau giám định còn lại.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,3036 gam ma túy loại Heroine tại mẫu A1 sau giám định còn lại.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/01/2019 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh Thái Bình).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 13/02/2019./.

Cỡ chữ