- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 14/2019/HS-ST. Ngày 28 - 5 - 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thành Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Liêm;
2. Ông Ngô Văn Khon.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/HS-ST ngày 02/5/2019 đối với bị cáo sau:
Họ và tên: Huỳnh Văn T, sinh năm: 1978; tại Đồng Tháp. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã Ph, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Công Th, sinh năm: 1954 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1954; Vợ: Nguyễn Thị Kim Ch, sinh năm: 1978; Con: Huỳnh Nguyễn Nhật A, sinh năm: 2005; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 09 ngày 18/01/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Thanh Bình; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Mai Trọng Ngh, sinh năm: 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Thái Thị Mộng Tr, sinh năm: 1994 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Huỳnh Thanh H, sinh năm: 1970 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm B, Phường X, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Phan Minh T, sinh năm: 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.
3. Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1997 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp Ng, xã Nh, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Trần Văn M, sinh năm: 1968 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
5. Trần Hoàng T, sinh năm: 1977 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 29/10/2018 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện Thanh Bình phối hợp với Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Tháp bắt quả tang xe ô tô mang biển số 66A - 011.52 do Huỳnh Văn T điều khiển vận chuyển 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, gồm: 200 bao thuốc lá hiệu 555; 750 bao hiệu Jet; 600 bao hiệu Hero; 250 bao hiệu Nelson; 200 bao hiệu Esse; Công an huyện Thanh Bình tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật và niêm phong theo quy định.
Quá trình điều tra bị cáo Huỳnh Văn T khai nhận: Ngày 01/10/2018 bị cáo thuê xe ô tô biển số 66A-011.52 của ông Mai Trọng Ngh, trú tại khóm M, phường M, thành phố C, để chở khách qua Casino tại Campuchia đánh bạc với giá thuê xe 400.000đ/ngày, thời hạn thuê xe là một tháng. Khoảng 8 giờ, ngày 29/10/2018 sau khi uống nước tại quán cà phê Đ, thuộc phường H, thành phố C bị cáo sử dụng xe ô tô nêu trên, chở 06 người khách gồm: Ng (không rõ họ, chữ lót, địa chỉ); Thái Thị Mộng Tr (H); Huỳnh Thanh H; Nguyễn Ngọc S (D); Trần Văn M; Trần Hoàng T (G) lên Casino tại Campuchia để đánh bạc; sau khi chở khách đến nơi thì bị cáo cho xe đến đậu tại chợ Th, huyện H, để chờ rước khách về. Lúc này, bị cáo nhờ một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ làm nghề chạy xe hon đa ôm tại khu vực chợ Th, huyện H mua giùm 1.900 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu để vận chuyển về thành phố C tiêu thụ. Sau khi nhận được thuốc lá, bị cáo lấy 02 bao (trong 04 bao) da rắn màu đỏ trắng, bên ngoài bao có hàng chữ đỏ “thức ăn cá lóc” cất giấu thuốc lá, và bị cáo chiếc ra để vào các bọc nilon màu đen, rồi đem cất giấu phía trước ghế tài xế 01 bọc nilon, dưới các băng ghế và phía sau của tài xế 08 bọc nilon, còn lại 10 bọc nilon và 02 bao da rắn bị cáo cất giấu phía sau thùng xe ô tô. Ngoài ra, bị cáo còn khai nhận chở giùm cho Thái Thị Mộng Tr (H), trú tại khóm M, phường C, thành phố C 100 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nhãn hiệu Jet, được cất giấu trong 02 bọc nilon màu đen, vận chuyển về thành phố C giao lại cho Tr. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi xe chạy đến khu vực ấp B, xã B, huyện Th thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Bình kiểm tra phát hiện bắt quả tang toàn bộ số thuốc lá nêu trên.
* Vật chứng tạm giữ, gồm:
- 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, gồm: 200 bao hiệu 555; 750 bao hiệu Jet; 600 bao hiệu Hero; 250 bao hiệu Nelson và 200 bao hiệu Esse;
- 21 (Hai mươi một) bọc nilon màu đen; 04 cái bao da rắn màu đỏ trắng, có dòng chữ “thức ăn cá lóc” màu đỏ;
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen trắng; 01 giấy phép lái xe hạng B2, số 860094001532 do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 20/10/2014 cho Huỳnh Văn T. Quá trình điều tra xác định điện thoại, giấy phép lái xe không liên quan đến việc phạm tội, ngày 08/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình đã trao trả cho bị cáo xong;
- 01 (Một) xe ô tô biển số 66A-011.52, loại xe Innova - G1998, nhãn hiệu Toyota, số máy 1TR6610394, số khung RL4XW43G889250561, trọng tải 07 chỗ ngồi, màu ghi bạc; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004112, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh cấp ngày 13/05/2013; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 5207789, do Trung tâm đăng kiểm phương tiện cơ giới thủy bộ tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 15/5/2018; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, do Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện cấp ngày 16/5/2018. Quá trình điều tra xác định các tài sản trên của ông Mai Trọng Ngh, việc bị cáo sử dụng vận chuyển thuốc lá ông Ngh hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình đã trao trả xe ô tô cùng toàn bộ giấy tờ trên cho ông Ngh xong.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Mai Trọng Ngh không có yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại.
Đối với người đàn ông mua giùm thuốc lá cho bị cáo; do bị cáo T không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý theo quy định.
Đối với hành vi của Ng (không rõ họ, chữ lót, địa chỉ); Thái Thị Mộng Tr (H); Huỳnh Thanh H; Nguyễn Ngọc S (D); Trần Văn M; Trần Hoàng T (G) qua Casino tại Campuchia đánh bạc. Quá trình điều tra xác định không có căn cứ để làm rõ về hành vi đánh bạc và qua biên giới trái phép nên không xử lý.
Đối với hành vi Thái Thị Mộng Tr mua và gửi cho bị cáo T 100 (Một trăm) bao thuốc lá, nhãn hiệu Jet vận chuyển về thành phố C để giao lại cho Tr. Quá trình điều tra xác định Tr không tiền án, tiền sự và vi phạm của Tr chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình tách hồ sơ chuyển cho Cơ quan thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Tại Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Thanh Bình truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; về tình tiết tăng nặng: Không.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo T từ 06 tháng đến 09 tù, nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; đồng thời, phạt bổ sung bị cáo T từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ.
* Về vật chứng: Đề nghị Tòa xử lý theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Xét lời khai nhận của bị cáo T là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Bị cáo T lợi dụng việc thuê xe ô tô đưa khách đến chợ Th, huyện H; bị cáo đã có hành vi vận chuyển 2.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu các loại từ huyện H về thành phố C; khi xe chạy đến khu vực ấp B, xã B, huyện Th thì bị bắt quả tang, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm.
Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý trước pháp luật, nhằm răn đe giáo dục cho bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Xét thấy, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) …….
b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị cáo nhằm giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình điều tra, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đồng thời, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T điều kiện kinh tế gia đình ổn định và bị cáo được hưởng án treo, nên bị cáo có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nộp phạt tiền theo quy định; do đó, phạt bổ sung bị cáo T số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu nộp ngân sách nhà nước và tiêu hủy số vật chứng như sau:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, gồm: 200 bao hiệu 555; 750 bao hiệu Jet; 600 bao hiệu Hero; 250 bao hiệu Nelson và 200 bao hiệu Esse;
- Tịch thu tiêu hủy 21 (Hai mươi một) bọc nilon màu đen; 04 (Bốn) cái bao da rắn màu đỏ trắng, có dòng chữ “thức ăn cá lóc” màu đỏ;
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Thanh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình).
Về trách nhiệm dân sự: Không có; nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử; về hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật tố tụng hình sự, không có vi phạm và không có bị khiếu nại, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thấy rằng quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tình tiết khách quan của vụ án; nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 tháng, được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 28/5/2019).
Giao bị cáo T cho UBND xã Ph, huyện C, tỉnh Đồng Tháp giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Huỳnh Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Văn T hình thức bằng tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp ngân sách nhà nước và tiêu hủy số vật chứng như sau:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 2.000 (Hai nghìn) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, gồm: 200 bao hiệu 555; 750 bao hiệu Jet; 600 bao hiệu Hero; 250 bao hiệu Nelson và 200 bao hiệu Esse;
- Tịch thu tiêu hủy 21 (Hai mươi một) bọc nilon màu đen; 04 (Bốn) cái bao da rắn màu đỏ trắng, có dòng chữ “thức ăn cá lóc” màu đỏ;
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo Huỳnh Văn T chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Thanh Bình; - CA huyện Thanh Bình; - THADS huyện Thanh Bình; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Phạm Thành Triều |