- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T, Nguyễn Xuân H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T , Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH –––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2019/HS-ST Ngày : 03-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Hồng.
Ông Phạm Đình Duy
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
1- Phạm Văn T - sinh ngày 23/9/1996 tại huyện TS , tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn Th S , xã TT , huyện TS, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn L - sinh năm 1972 và bà Đặng Thị Phương T - sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa; tiền sự: chưa; Tiền án: Ngày 26/8/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã AK , tỉnh Gia Lai xử phạt 3 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 27/2015/HS-ST, chấp hành xong ngày 03/3/2018. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2- Nguyễn Xuân H - sinh ngày 22/10/1998 tại thị xã AK, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn AĐ 1, xã CA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân Á- sinh năm 1972 và bà Phan Thị L - sinh năm 1971; vợ: Trần Thị Ngọc B , sinh năm 1997; con: 01 người, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Ngày 28/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện TP xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 30/2015/HS-ST, chấp hành xong ngày 19/4/2016. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
+ Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1964; (có đơn xin xử vắng mặt).
Trú tại: thôn ThS, xã TT , huyện TS, tỉnh Bình Định.
+ Anh Nguyễn Văn G - sinh năm 1998;
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn B - sinh năm 1995; (có mặt)
Đồng trú tại: Xóm 3, thôn ThS, xã TT , huyện TS, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Thái Thành L - sinh năm 1973; (có mặt).
Trú tại: Thôn KN , xã BTh, huyện TS, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn B - sinh năm 1995; (có mặt)
Trú tại: Xóm 3, thôn ThS, xã TT, huyện TS, tỉnh Bình Định.
+ Chị Nguyễn Thị Thu Th - sinh năm 1986; (vắng mặt)
Trú tại: Xóm 2, thôn ThS, xã TT, huyện TS, tỉnh Bình Định.
+ Ông Nguyễn Văn L - sinh năm 1967; (có mặt).
Trú tại: Thôn ThS, xã TT, huyện TS, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết nhau từ trước nên ngày 20/01/2019, Nguyễn Xuân H (SN:1998) ở AĐB 1 – CA – TX. AK – Gia Lai đi từ AK đến nhà Phạm Văn T (SN:1996) ở ThS – TT – TS – Bình Định để chơi. Khoảng 16 giờ ngày 21/01/2019, Phạm Văn T cùng anh ruột là Phạm Văn Th (SN:1992) ở ThS – TT – TS – Bình Định, Nguyễn Xuân H và một số người bạn của T cùng uống bia tại quán Trà Sữa xóm ở ThS – TTh – TS – Bình Định. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi nhậu xong thì T và Th cãi nhau nên H can ngăn. Anh Nguyễn Văn B (SN:1995) ở Xóm 3 – ThS – TT – TS – Bình Định là người quen với Th đi ngang qua quán thấy vậy nên B vào can ngăn và có cãi nhau với H . Sau đó, T cùng với H đi bộ ra Ngã ba Cầu 16 thuộc ThS – TTh – TS – Bình Định tiếp tục uống bia. Tại quán, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài nên nói với H “Coi kiếm việc gì làm để kiếm tiền tiêu tết”, H hiểu là T rủ đi trộm cắp nhưng vẫn đồng ý. Khoảng 30 phút sau, H nói với T “Tối nay anh em mình đi từ Cầu 16 lên VTh , coi có xe nào có chìa khóa thì lấy”, T đồng ý. Sau đó, cả hai cùng đi bộ dọc theo Quốc lộ 19 về nhà T để lấy thêm áo khoác mặc cho ấm. Khi đi đến trước quán ăn KhH do bà Nguyễn Thị H (SN:1964) ở Th S – TT – TS – Bình Định làm chủ. Thấy quán này đã đóng cửa, trước quán có dựng một chiếc xe đạp sườn ngang màu xanh, không có rổ xe. H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe đạp trên làm phương tiện để đi dạo tìm tài sản. T đứng ngoài đường, H đến dắt xe đạp ra và chở T đi theo hướng QL19 về nhà T . Khi đi đến Cầu Vườn Xoài cách nhà T khoảng 50m thì xe đạp bị gãy tăm bánh sau, sợ bị phát hiện đã trộm xe đạp nên T bảo H để xe đạp lại. H dựng xe trên thành cầu rồi cả hai cùng đi bộ về nhà T. Đến nơi, H đứng trước cửa nhà, T đi vào lấy mỗi người một cái áo khoác sau đó cả hai cùng đi bộ từ QL19 đến Ngã ba Cầu 16 rồi rẽ vào tỉnh lộ ĐT 637 đi về hướng Vĩnh Thạnh dạo tìm tài sản.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai đi đến trước tiệm internet của ông Nguyễn Văn L (SN:1967) ở ThS – TT – TS – Bình Định, phát hiện có 01 xe môtô hiệu Wanye màu xanh, BKS: 77F5 – 8394 của anh Nguyễn Văn G (SN:1998) ở Xóm 3 – ThS – TT – TS – Bình Định đang dựng trước hiên nhà ông L. T đứng ở đường bê tông cách nhà ông L khoảng 2 – 3m để cảnh giới, H đi vào trong nhà ông L thấy xe không có chìa khóa, H dắt xe môtô ra ngoài đường, cả hai cùng dắt xe môtô đi bộ về hướng Vĩnh Thạnh. Đi được khoảng 60m thì H dắt xe môtô rẽ vào ngã ba bên trái đường ĐT 637, đi thêm một đoạn khoảng 15m thì cả hai dừng lại để tháo dây bình khởi động xe. H sử dụng chiếc điện thoại của mình, bật đèn pin rồi đưa cho T cầm soi cho H tìm dây bình để rút. Trong lúc H tìm dây bình thì T phát hiện anh Nguyễn Văn B đi xe đạp điện đến nên T đưa lại điện thoại cho H rồi dùng tay kéo áo khoác lên che mặt lại và theo đường bê tông bỏ đi. B đi đến nhận ra xe môtô đang dựng bên cạnh H là xe của em mình nên anh B giữ H lại nói H không được chạy, nếu không sẽ bị dân vây đánh. H sợ bị đánh nên đứng tại chỗ, B chạy về tiệm internet nói cho G biết. Sau đó, cả hai cùng quay lại chỗ H và đưa H cùng xe môtô đến Công an xã TT báo cáo sự việc. Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Văn T đến làm việc. Đến khoảng 12 giờ ngày 22/01/2019, T đến UBND xã TT trình diện. Phạm Văn T và Nguyễn Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 22/01/2019, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện TS kết luận xe môtô nhãn hiệu Wanye, màu xanh, BKS: 77F5 – 8394 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 3.867.000 đồng.
Ngày 01/3/2019, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện TS kết luận xe đạp sườn ngang, màu xanh, không có rổ xe tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 1.300.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt có giá trị là: 5.167.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: Xe môtô hiệu Wanye, màu xanh, BKS: 77F5 – 8394 và xe đạp loại sườn ngang, màu xanh, không có rổ xe đã trả lại cho chủ sở hữu; 01 chiếc điện thoại Iphone 5S, màu trắng, ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đen, mặt sau có dán hình doraemon, nền màu xanh dương, mặt kính có nhiều vết rạn nứt, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Về phần dân sự, các bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu bồi thường, có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 14/CT – VKSTS ngày 18/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện TS đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T , Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TS đề nghị:
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H mức án từ 9 tháng đến 12 tháng tù.
- Về phần dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 5S, màu trắng, ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đen, mặt sau có dán hình Doraemon, nền màu xanh dương, mặt kính có nhiều vết rạn nứt (không kiểm tra chất lượng bên trong).
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TS , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TS , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn T , Nguyễn Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và công nhận cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và đã được thẩm vấn tại phiên tòa, HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 22 giờ ngày 21/01/2019, Phạm Văn T đã khởi xướng, rủ rê Nguyễn Xuân H cùng nhau lén lút chiếm đoạt một chiếc xe đạp (đặc điểm: loại sườn ngang, màu xanh, không có rổ xe) của bà Nguyễn Thị H ở thôn ThS , xã TT, huyện TS, tỉnh Bình Định có giá trị 1.300.000 đồng và chiếm đoạt một xe môtô (đặc điểm: nhãn hiệu Wanye, kiểu dáng Dream, màu sơn xanh, BKS 77F5 – 8394) của anh Nguyễn Văn G ở thôn ThS, xã TT, huyện TS , tỉnh Bình Định có giá trị 3.867.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt có giá trị là 5.167.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, VKSND huyện TS truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Vì không có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, có tổng giá trị 5.167.000 đồng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần thiết phải xử nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo T có vai trò là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp cùng bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H được bị cáo T rủ thực hiện hành vi trộm cắp thì đồng ý cùng đi và đưa ra đề nghị trộm xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo H đồng phạm với bị cáo T , vai trò là người thực hành tích cực. Nên xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Nhân thân các bị cáo: Bị cáo H có nhân thân xấu. Ngày 28/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện TP xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 30/2015/HS-ST, chấp hành xong ngày 19/4/2016, đã được xóa án tích.
- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng. Riêng bị cáo T có 01 tình tiết tăng nặng, ngày 26/8/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã AK, tỉnh Gia Lai xử phạt 3 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 27/2015/HS-ST, chấp hành xong ngày 03/3/2018, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi, trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì, có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần chiếu cố giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo. Nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì phải có thời gian cải tạo cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian như mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TS thì mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:
Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
01 (một) chiếc điện thoại Iphone 5S, màu trắng, ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đen, mặt sau có dán hình Doraemon, nền màu xanh dương, mặt kính có nhiều vết rạn nứt (không kiểm tra chất lượng bên trong) sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện TS và Công an huyện TS ).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Xuân H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T , Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/01/2019.
* Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/01/2019.
* Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 5S, màu trắng, ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đen, mặt sau có dán hình Doraemon, nền màu xanh dương, mặt kính có nhiều vết rạn nứt (không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện TS và Công an huyện TS ).
* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Xuân H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
* Quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn; - Cơ quan THAHS Công an huyện Tây Sơn; - Chi cục THADS huyện Tây Sơn; - Bi cáo; bị hại; - Đương sự vụ án; - Bộ phận HSNVCS Công an huyện Tây Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Trí |