vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài”.

Áp dụng hoản hoản 1 Điều 173; hoản 1 Điều 174; đi m s hoản 1 Điều 51; đi m h hoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật H nh sự. Xử phạt bị cáo Mai Quang V: 14 mười bốn tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 10 mười tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp h nh phạt của hai tội, buộc bị cáo V chấp h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng H nh sự; Điều 52 Bộ luật H nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2019/HS–ST
Ngày: 28/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

– Th nh phần Hội ng t

th g c :

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

ng Nguyễn V n Ba.

Bà Trần Thị Hồng Phượng.

Thư phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên–Thư Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện i m sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình – Ki m sát viên.

Ngày 28 tháng 02 n m 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công hai vụ án H nh sự sơ thẩm thụ l số 04/2019/TLST–HS ngày 09 tháng 01 n m 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST–HS ngày 31/01/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/HSST–QĐ ngày 14/02/2019 đối với bị cáo:

Mai Quang V, sinh n m 1977 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Tr nh độ v n hóa học vấn : 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai K chết và bà Nguyễn Thị Y chết ; Có vợ: Trần Thu D, sinh n m 1985 hông có đ ng

ết hôn ; Con: Có 01 con sinh n m 2006.

Tiền án: Ngày 21/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 02 n m tù về tội “Cố gây thương t ch” Bản án số: 67/2016/HSST), hiện chưa nộp tiền án ph H nh sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

1/ Ngày 07/9/1998, bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân Bản án số: 38/HSST . Do bị cáo háng cáo, ngày 17/11/1998 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phúc thẩm y án Bản án số: 250/HSPT ;

2/ Ngày 27/12/2001, bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản Bản án số 86/HSST ;

3/ Ngày 25/6/2002, bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người hác phạm tội mà có, tổng hợp h nh phạt 12 tháng tù của Bản án số 86/HSST ngày 27/12/2001, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 21 tháng tù Bản án số 42/HSST .

Bị bắt tạm giam ngày 13/11/2018.

– Bị hại:

1/ ng Phan V n H, sinh n m 1969.

Địa chỉ: Ấp 4, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2/ Anh Nguyễn V n T, sinh n m 1983.

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ ng Phạm Huy C, sinh n m 1964.

Địa chỉ: Ấp 1, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

2/ ng Nguyễn Khắc V, sinh n m 1977.

Địa chỉ: Ấp 3, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3/ ng Nguyễn T ng T, sinh n m 1977.

4/ Bà Trương Thị Ánh M, sinh n m 1982.

Cùng địa chỉ: Tổ 6, ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

– Người làm chứng: Anh Trần Quốc C, sinh n m 1992.

Địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có m t tại phiên tòa; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ng Phạm Huy C, anh Nguyễn Khắc V, chị Trương Thị Ánh M; người làm chứng anh Trần Quốc C vắng m t – có đơn đề nghị xét xử vắng m t tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn T ng T vắng m t không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Mai Quang V là đối tượng nghiện ma túy, hông nghề nghiệp. Đề có tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng nên V đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản.

Do có quen biết từ trước, ngày 27/8/2018 Mai Quang V đến nhà anh Phan V n H tại ấp 4, xã B, huyện Long Thành chơi. Trong lúc ngồi nói chuyện, V thấy anh H có 01 cây đàn Organ hiệu YAMAHA nên nảy sinh định chiếm đoạt, đem bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, V nói anh H cho V mượn cây đàn Organ YAMAHA đi đánh nhạc thuê cho đám giỗ ở huyện N, tỉnh Đồng Nai, anh H tưởng V nói thật nên đồng cho V mượn đàn. Sau hi có đàn, V đến nhà anh Phạm Huy C tại phường H, thị xã P trước là xã H, huyện T), tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đ cầm cho anh C nhưng anh C hông cầm, lúc này có anh Nguyễn Khắc V đang ngồi nhậu tại nhà anh C thấy vậy nên đồng cầm cây đàn cho bị cáo V với số tiền 3.000.000 đồng. Khoảng 03 ngày sau, bị cáo V đến nhà anh C tìm anh Nguyễn Khắc V cầm cây đàn thêm 2.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền cầm cố cây đàn, bị cáo V mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Một thời gian sau, hông thấy bị cáo V đến chuộc lại cây đàn nên anh Nguyễn Khắc V đã cầm lại cây đàn này cho anh Phạm Huy C với giá 5.000.000 đồng. Sau hi cơ quan điều tra làm việc với anh C, anh C đã giao nộp cây đàn đ điều tra, làm rõ.

Vụ thứ hai: Lúc 02 giờ ngày 11/9/2018, Mai Quang V đến nhà anh Nguyễn V n H tại ấp 1, xã T, huyện Long Thành đ xin ngủ nhờ, V gọi cửa hông ai trả lời, V đi vòng ra ph a sau, hi đi qua nhà anh Nguyễn V n T ế bên nhà anh H phát hiện cửa sau nhà của anh T không khóa nên V mở cửa đi vào t m tài sản trộm cắp, V đi ngang qua phòng ngủ nghe thấy tiếng quạt nên biết có người ngủ bên trong, hi đi lên phòng hách, V dùng đèn pin của chiếc bật lửa đ lục t m tài sản và phát hiện 02 chiếc xe mô tô dựng trong nhà có ch a hóa cắm sẵn trên xe nên nảy sinh định chiếm đoạt xe mô tô hiệu EXCITER bi n số 60C1–307.84. Sau đó, V lấy ch a hóa nhà được gắn chung với ch a hóa xe mô tô đ mở cửa trước và dắt bộ xe mô tô hiệu EXCITER ra ngoài đường, điều hi n chạy về hướng ngã tư H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Đến 11 giờ trưa cùng ngày, V điều hi n xe mô tô EXCITER trên đến nhà Nguyễn T ng T ở ấp P, xã L, huyện L cầm xe mô tô trên cho T, nhưng V không nói cho T biết xe mô tô trên là do V trộm cắp mà có. T trả cho V số tiền m t là 6.000.000 đồng và 01 con gà đá trị giá 1.000.000 đồng. Số tiền trên, V mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản ết luận định giá tài sản số 107/KLĐG ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng H nh sự huyện Long Thành ết luận: 01 cây đàn Organ hiệu YAMAHA số hiệu S910, đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000 đồng; Tại Kết luận định giá tài sản tố tụng h nh sự số 84/KL.ĐGTSTT ngày 15/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng H nh sự huyện Long Thành ết luận: 01 xe mô tô bi n số 60C1 – 307.84 hiệu YAMAHA EXCITER màu trắng – xanh trị giá 20.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: 01 cây đàn Organ hiệu YAMAHA, 01 xe mô tô bi n số 60C1 – 307.84 hiệu YAMAHA EXCITER đã được thu hồi và trả lại cho bị hại anh Phan V n H, anh Nguyễn V n T.

Về trách nhiệ Dân ự: Bị hại anh Phan V n H, anh Nguyễn V n T đã nhận lại tài sản nên hông yêu cầu bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Huy C yêu cầu bị cáo V trả lại cho ông C số tiền cầm cố cây đàn Organ YAMAHA 5.000.000 đồng.

Trước Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Mai Quang V đã hai nhận hành vi phạm tội của m nh, phù hợp với lời hai của bị hại, lời hai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Đối với anh Nguyễn Khắc V, anh Phạm Huy C có hành vi cầm 01 cây đàn Organ hiệu YAMAHA do bị cáo V lừa đảo mà có; anh Nguyễn T ng Tùng có hành vi cầm 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER bi n số 60C1–307.84 do bị cáo V trộm cắp mà có. Tuy nhiên, anh Nguyễn Khắc V, anh C và anh Tùng hông biết tài sản trên do bị cáo V phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành hông hởi tố là có c n cứ.

Đối với xe mô tô hiệu YAMAHA NOVO màu đỏ đen, bi n số 54S4–2715 thu giữ của bị cáo V hi bị bắt, quá tr nh điều tra xác định: Xe mô tô này, do V mua lại của 01 thanh niên hông rõ lai lịch tại tiệm cầm đồ. Qua điều tra, xác định chủ sở hữu xe mô tô trên xác định hông bị mất trộm nên Cơ quan điều tra Công an huyện L đã trả lại cho bị cáo V.

Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mai Quang V hông có iến hay hiếu nại g về Bản ết luận định giá tài sản số 107/KLĐG ngày 26/11/2018, Kết luận định giá tài sản tố tụng H nh sự số 84/KL.ĐGTSTT ngày 15/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng H nh sự huyện L.

Bản Cáo trạng số 15/CT–VKSLT ngày 31 tháng 12 n m 2018 của Viện i m sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Mai Quang V về tội Trộm cắp tài sản theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hoản 1 Điều 174 của bộ luật H nh sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện i m sát nhân dân huyện L giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Quang V phạm tội Trộm cắp tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. C n cứ hoản 1 Điều 173, hoản 1 Điều 174; đi m s hoản 1 Điều 51, đi m h hoản 1 Điều 52, Điều 55 của Bộ luật H nh sự. Xử phạt bị cáo Mai Quang V: Từ 08 đến 10 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ 10 đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp h nh phạt của hai tội, buộc bị cáo V chấp hành h nh phạt chung của hai tội từ 18 đến 22 tháng tù.

– Về trách nhiệ Dân ự: Anh Phan V n H, anh Nguyễn V n T đã nhận lại tài sản, hông yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét. Quá tr nh chuẩn bị xét xử, ông Phạm Huy C hông yêu cầu bị cáo trả lại số tiền cầm cố cây đàn Organ YAMAHA 5.000.000 đồng nên không xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Quang V đã n n n hối cải về hành vi phạm tội của m nh và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo đ bị cáo có điều iện trở thành người tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện i m sát nhân dân huyện Long Thành, Ki m sát viên: Trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h nh sự. Qúa tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Quang V hông có iến ho c hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời hai của bị cáo phù hợp lời hai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện i m sát, cùng các tài liệu, chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Tài sản bị cáo V trộm cắp chiếm đoạt của bị hại anh Nguyễn V n T có trị giá 20.000.000 đồng, tài sản bị cáo V lừa đảo chiếm đoạt của anh Phan V n H có trị giá 6.000.000 đồng nên Viện i m sát truy tố bị cáo Mai Quang V về tội Trộm cắp tài sản theo hoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hoản 1 Điều 174 Bộ luật H nh sự là có c n cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo V là t nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại một cách trái pháp luật, t nhiều ảnh hưởng đến t nh h nh trật tự trị an xã hội, bị cáo V vẫn nhận thức hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật nhưng vẫn hành động phạm tội. Trong vụ án này, ngoài hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại Phan V n H, bằng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại anh H, bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần xử phạt bị cáo thật nghiêm tương xứng với hành vi, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật H nh sự tổng hợp h nh phạt của hai tội, buộc bị cáo V chấp hành h nh phạt chung.

Về t nh tiết t ng n ng trách nhiệm H nh sự: Bị cáo có 01 t nh tiết t ng n ng trách nhiệm H nh sự là tái phạm theo quy định tại đi m h hoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự.

Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm H nh sự: Bị cáo có 01 t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm H nh sự là thành hẩn hai báo, n n n hối cải theo quy định tại đi m s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật H nh sự.

Từ những phân t ch trên, Hội đồng xét xử có đủ c n cứ xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo, xét cũng đủ tác dụng giáo dục, r n đe bị cáo.

Đối với anh Nguyễn Khắc V, anh Phạm Huy C có hành vi cầm 01 cây đàn Organ hiệu YAMAHA do bị cáo V lừa đảo mà có; anh Nguyễn T ng Tùng có hành vi cầm 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER bi n số 60C1–307.84 do bị cáo V trộm cắp mà có. Tuy nhiên, anh Nguyễn Khắc V, anh C và anh T không biết tài sản trên do bị cáo V phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện L hông hởi tố là có c n cứ.

Về vật chứng vụ án: 01 cây đàn Organ hiệu YAMAHA, 01 xe mô tô bi n số 60C1 – 307.84 hiệu YAMAHA EXCITER đã được thu hồi và trả lại cho bị hại anh Phan V n H, anh Nguyễn V n T.

Đối với xe mô tô hiệu YAMAHA NOVO màu đỏ đen, bi n số 54S4–2715 thu giữ của bị cáo V hi bị bắt, quá tr nh điều tra xác định: Xe mô tô này, do V mua lại của 01 thanh niên hông rõ lai lịch tại tiệm cầm đồ. Qua điều tra, xác định chủ sở hữu xe mô tô trên xác định hông bị mất trộm nên Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho bị cáo V là có cơ sở.

Về trách nhiệm Dân ự: Qúa tr nh điều tra, bị hại anh Phan V n H, anh Nguyễn V n T đã nhận lại tài sản và quá tr nh chuẩn bị xét xử, bị hại anh H, anh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Huy C không yêu cầu bị cáo V bồi thường nên không xét.

Về án ph : Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án ph H nh sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mai Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài”.

– Áp dụng hoản hoản 1 Điều 173; hoản 1 Điều 174; đi m s hoản 1 Điều 51; đi m h hoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật H nh sự.

Xử phạt bị cáo Mai Quang V: 14 mười bốn tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 10 mười tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp h nh phạt của hai tội, buộc bị cáo V chấp hành h nh phạt chung là 24 hai mươi bốn tháng tù, thời hạn tù t nh từ ngày bị bắt ngày 13/11/2018.

– Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng H nh sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Buộc bị cáo Mai Quốc V nộp 200.000 đồng án ph H nh sự sơ thẩm.

Theo luật định, bị cáo V có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày

từ ngày tuyên án. Anh Phan V n H, anh Nguyễn V n T, anh Nguyễn Khắc V, ông Phạm Huy C, anh Nguyễn T ng Tùng, chị Trương Thị Ánh Mai có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ