- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phạm H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm H phạm tội "Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2019/HS-ST Ngày 24 - 7 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H1 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Ngọc Ty
2. Bà Phạm Thị Ngọc Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2019/TLST - HS ngày 14 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST - HS ngày 10/7/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Phạm H, sinh ngày 05/9/1983 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đường X, xã CH, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức G, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1954, vợ Đinh Thị H3, sinh năm 1990, đều trú tại: Thôn Đường X, xã CH, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; có 02 con, cháu lớn sinh năm 2013, cháu nhỏ mới sinh; tiền án: có 01 tiền án: Ngày 27/11/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ xử phạt 48 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 15/2007/HSST; ngày 25/01/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 02/2008/HSPT chấp hành án tại Trại giam Bình Điền, ra tù ngày 01/9/2009. Bản án này bị cáo chưa thi hành án về phần án phí hình sự.
Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2019 đến ngày 22/3/2019, thay thế áp dụng biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh”, có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Xuân H1 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1967 (bố của anh H1); chị Lê Thị B, sinh năm 1990 (vợ của anh H1); cháu Nguyễn Văn Bảo A, sinh ngày 05/9/2014 và cháu Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 23/02/2017 (con đẻ của anh H1), đều cùng địa chỉ: Khu phố 4, phường 4, ĐH, Quảng Trị. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa: Lê Thị B, có mặt.
Người Giám định:
Ông Hồ Trung H4 và ông Đặng Đình H5, giám định viên tư pháp thuộc Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Trần Quang T, tên gọi khác: Trung Trước, sinh ngày 02/8/1984; Địa chỉ: Thôn đường 9, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Anh Trần Quốc T2, sinh ngày 02/11/1979; Địa chỉ: Thôn Đường 9, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Trần Đình Sỹ, tên gọi khác: Cày, sinh ngày 05/4/1984, địa chỉ: Thôn Đường 9, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Anh Hà Khắc Long, sinh ngày 06/12/1980, địa chỉ: Khu phố 4, phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Thái Văn Quốc, sinh ngày 07/9/1979, địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Chị Phạm Thị Thu Hương, sinh ngày 28/10/1987, địa chỉ: Thôn Vĩnh Đại, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị Thừa, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn Vĩnh Đại, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh Chức, sinh ngày 20/10/1984, địa chỉ: Thôn Bích Giang, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 22/02/2019, sau khi nhậu xong ở quán “Cam Hiếu”, tại thôn Vĩnh Đại, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, Nguyễn Phạm H chuẩn bị đi về thì thấy tại bàn nhậu ở dãy thềm phía trên của quán “Cam Hiếu” cũng có một số người quen đang ngồi nhậu, trong đó có anh Nguyễn Xuân H1, ở khu phố 4, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nên đến giao lưu, ngồi chơi. Nguyễn Phạm H thấy trên bàn nhậu có số tiền 330.000 đồng, nên cầm số tiền này bỏ vào túi quần của H và nói đùa “làm ván bài cho vui”. Thực chất đây là số tiền của hai người nhậu trong bàn đã về trước và bỏ số tiền này lại để góp thanh toán. Thấy vậy, anh Nguyễn Xuân H1 đứng dậy, lấy lại số tiền đó trong túi của H và nói “tiền này không phải của anh, anh muốn đánh thì lấy tiền của anh mà đánh”. H liền chạy xe về nhà lấy tiền rồi quay lại quán, ngồi lại vị trí cũ, phía bên trái sát với anh Nguyễn Xuân H1. Cả hai tiếp tục tranh cãi về cá cược trả tiền nhậu. Nguyễn Phạm H bỏ tiền ra ở ghế nhựa nằm giữa hai người và đòi cá cược 01 ván để thanh toán tiền nhậu, nhưng anh H1 không chịu bỏ tiền, nên cả hai đứng dậy tranh cãi, chửi thề nhau càng lúc càng căng thẳng. Cả hai chuẩn bị xông vào đánh nhau thì được mọi người can ngăn. Anh Trần Quang T đẩy anh Nguyễn Xuân H1 ra khỏi bàn nhậu và dùng tay đẩy ngực anh H1 thụt lùi về phía Đông (hướng thành phố Đông Hà), cách bàn nhậu khoảng 2,5m, lúc này anh H1 mặt vẫn quay về phía bàn nhậu để chửi nhau với Nguyễn Phạm H. Trong lúc đó, anh Hà Khắc L ôm, can ngăn Nguyễn Phạm H tại bàn nhậu, nhưng hai người vẫn tiếp tục chửi nhau. Nguyễn Phạm H đã dùng tay phải lấy một cái ghế nhựa màu đỏ tại vị trí bàn nhậu ném mạnh về phía anh Nguyễn Xuân H1, H1 quay người né tránh nên ghế đã bay trúng vào sau đầu anh H1. Lúc này, anh H1 và H đẩy những người can ngăn ra và xông vào đánh nhau, cả hai dùng tay đấm vào nhau nhiều cái. Nguyễn Phạm H dùng tay đấm ngang, đấm thẳng trúng vào vùng vai, vùng đầu anh H1 nhiều cái. Sau đó, cả hai tiếp tục áp sát, ôm vật ở tư thế đứng, anh H1 quay mặt hướng lên Cam Lộ, anh H quay mặt về phía Đông Hà, mặt đối diện với nhau, H dùng tay phải ôm vào vùng sau cổ bên trái anh H1 để vật, nhưng không ai bị ngã, rồi được mọi người can ngăn cả hai ra, làm Nguyễn Phạm H ngã quỵ một đầu gối xuống nền nhà nhưng sau đó tự đứng lên được, còn anh Nguyễn Xuân H1 được anh Trần Quốc T2 đứng phía sau lưng, dùng hai tay ôm vào phần bụng để kéo ra. Lúc này, anh Nguyễn Xuân H1 có dấu hiệu bị mất sức nên được anh T ôm dìu ngồi bệt xuống nền nhà, được một lúc thì được anh T dìu nằm ngữa xuống. Nguyễn Phạm H được mọi người khuyên ngăn nên đi về trước, nhưng trên đường về nhà phát hiện quên điện thoại nên quay lại quán thì thấy anh H1 bị ngất, đang nằm ngữa trên nền nhà, nên cùng với anh Trần Quang T hô hấp nhân tạo, nhồi ngực cấp cứu cho anh H1 được khoảng hơn 30 phút thì đưa đi cấp cứu, sau đó anh H1 chết tại bệnh viện.
Tại Bản kết luận giám định số 241/KLGĐ – PC09 ngày 25/02/2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Xuân H1: Chảy máu màng mềm lan tỏa hai bên bán cầu não trên người có sử dụng rượu bia, sau va chạm.
Cơ chế hình thành các dấu vết trên cơ thể của anh Nguyễn Xuân H1: Do va chạm với vật tày.
Tại Công văn số 70/CV – PC09 ngày 01/3/2019 của Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Trị giải thích cho Kết luận giám định số 241/KLGĐ – PC09:
Cơ chế dẫn đến nguyên nhân chết của anh Nguyễn Xuân H1 là do anh Nguyễn Xuân H1 có sử dụng rượu bia làm các mạch máu trong não giãn căng, với một lực tác động vào vùng đầu, mặt sẽ làm các mạch máu não vỡ gây xuất huyết não dẫn đến tử vong.
Quá trình xuất huyết não sẽ gây phù não, tăng áp lực nội sọ gây chèn ép trung khu hô hấp, tuần hoàn tại thân não, từ đó dẫn đến rối loạn hô hấp, tuần hoàn. Đây có thể là nguyên nhân gây nên các biểu hiện xung huyết, xuất huyết ở tim, phổi.
Các thương tích ở vùng trán trái, trán thái dương trái, chẩm trái, vùng cổ là những tác động ngoại lực dẫn đến anh H1 chết trong tình trạng sử dụng rượu bia. Nếu không có những tác động trên, trong trường hợp anh Nguyễn Xuân H1 sử dụng rượu bia thì không gây tổn thương chảy máu màng mềm lan tỏa hai bán cầu.
Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS - CL ngày 14/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Phạm H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 07 năm – 07 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Phạm H và đại diện hợp pháp của bị hại chị Lê Thị B đã thỏa thuận bồi thường, đề nghị Tòa án ghi nhận việc bị cáo đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con của anh Nguyễn Xuân H1 là Nguyễn Văn Bảo A, sinh ngày 05/9/2014 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 23/02/2017 số tiền 2.000.000 đồng/tháng/02 cháu, kể từ tháng 3/2019 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.
- Về vật chứng: Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tài sản: 01 quần dài bằng vải Jean, màu xanh dương, mặt trước hai ống quần có nhiều vết rách xơ cũ, bám dính nhiều bụi bẩn; 01 áo khoác dài tay màu xám, phía sau lưng có in dòng chữ “Bê tông Thiên Tân”, bám dính nhiều bụi bẩn, đã bị cắt trong quá trình khám nghiệm tử thi; 01 áo phông ngắn tay, cổ tròn, màu đỏ, mặt sau phía trên cổ áo có in dòng chữ “Tevez”, đã bị cắt rách trong quá trình khám nghiệm tử thi.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến gì về lời luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo đã bồi thường thiệt hại, nhiều lần thăm hỏi động viên gia đình bị hại. Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường 100 triệu đồng; tiếp tục đề nghị Tòa án ghi nhận việc bị cáo cấp dưỡng nuôi con của bị hại 2.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Do mâu thuẫn từ việc cá cược trong khi uống bia, giữa bị cáo Nguyễn Phạm H và anh Nguyễn Xuân H1 đã xảy ra cãi vã, xô xát lẫn nhau. Trong quá trình xô xát qua lại, Nguyễn Phạm H đã dùng tay phải cầm một cái ghế nhựa ném mạnh về phía anh H1, anh H1 quay người tránh nên trúng vào phía sau đầu; tiếp đó H dùng hai tay đấm ngang, đấm thẳng trúng vào vai, đầu của anh H1 nhiều cái, sau đó dùng tay ôm vào cổ để vật anh H1 dẫn đến việc anh H1 bị chết.
Tại bản kết luận giám định của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và văn bản giải thích kết luận giám định đã xác định: Cơ chế dẫn đến nguyên nhân chết của anh Nguyễn Xuân H1 là do anh Nguyễn Xuân H1 có sử dụng rượu bia làm các mạch máu trong não giãn căng, với một lực tác động vào vùng đầu, mặt sẽ làm các mạch máu não vỡ gây xuất huyết não dẫn đến tử vong.
Như vậy, trên cơ sở các dấu vết thương tích trên người của anh Nguyễn Xuân H1 đã được các cơ quan chức năng giám định, lời khai của người làm chứng và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Phạm H đã có hành vi cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Xuân H1; tuy nhiên nếu xét riêng những hành vi tác động vào vùng đầu, vùng mặt của bị cáo không đủ để làm anh H1 chết mà nguyên nhân chết của anh H1 là sự kết hợp giữa hành vi dùng vũ lực tác động vào vùng đầu, mặt của bị cáo và việc anh H1 có sử dụng rượu bia dẫn đến mạch máu vỡ, gây xuất huyết não dẫn đến anh H1 tử vong. Việc anh H1 chết nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Từ các cơ sở trên, có căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung “Làm chết người” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Điều luật có khung hình phạt từ 07 năm đến 14 năm tù.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tính mạng của người khác. Do đó cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” vào năm 2007, bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính tuy nhiên về phần án phí bị cáo chưa chấp hành, nay bị cáo tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường toàn bộ thiệt hại; bị hại cũng có một phần lỗi; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo là người công với cách mạng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy cần xử bị cáo ở mức khởi điểm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian khá dài mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Phạm H và đại diện hợp pháp của bị hại chị Lê Thị B đã thỏa thuận bồi thường, trong đó bị cáo đã bồi thường 100 triệu đồng là chi phí mai táng, cứu chữa. Đối với số tiền cấp dưỡng nuôi hai con của anh Nguyễn Xuân H1, hai bên thỏa thuận bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Văn Bảo A, sinh ngày 05/9/2014 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 23/02/2017 với số tiền 2.000.000 đồng/tháng/02 cháu, kể từ tháng 3/2019 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, và đề nghị Tòa án ghi nhận việc thỏa thuận này trong bản án. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.
Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 quần dài bằng vải Jean, màu xanh dương, mặt trước hai ống quần có nhiều vết rách xơ cũ, bám dính nhiều bụi bẩn; 01 áo khoác dài tay màu xám, phía sau lưng có in dòng chữ “Bê tông Thiên Tân”, bám dính nhiều bụi bẩn, đã bị cắt trong quá trình khám nghiệm tử thi; 01 áo phông ngắn tay, cổ tròn, màu đỏ, mặt sau phía trên cổ áo có in dòng chữ “Tevez”, đã bị cắt rách trong quá trình khám nghiệm tử thi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Tất cả những tài sản này là của bị hại anh Nguyễn Xuân H1, cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số tài sản còn lại, chị Lê Thị B yêu cầu trả lại cho gia đình, nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Phạm H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với án phí dân sự, do bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại đã thỏa thuận trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại nên căn cứ vào điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm H phạm tội "Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm H 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành kể từ ngày bắt đi thi hành án, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ 23/02/2019 đến 22/03/2019.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Phạm H và đại diện hợp pháp của bị hại, về việc bị cáo H cấp dưỡng nuôi 02 cháu Nguyễn Văn Bảo A, sinh ngày 05/9/2014 và Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 23/02/2017 số tiền 2.000.000 đồng/tháng/02 cháu, kể từ tháng 3/2019 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về tài sản thu giữ: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại các tài sản: 01 quần dài bằng vải Jean, màu xanh dương, mặt trước hai ống quần có nhiều vết rách xơ cũ, bám dính nhiều bụi bẩn; 01 áo khoác dài tay màu xám, phía sau lưng có in dòng chữ “Bê tông Thiên Tân”, bám dính nhiều bụi bẩn, đã bị cắt trong quá trình khám nghiệm tử thi; 01 áo phông ngắn tay, cổ tròn, màu đỏ, mặt sau phía trên cổ áo có in dòng chữ “Tevez”, đã bị cắt rách trong quá trình khám nghiệm tử thi.
Tất cả những tài sản này đều có tại Chi cục THADS huyện Cam Lộ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2019.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phạm H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - CA huyện Cam Lộ (2 bản); - Chi cục THADS huyện Cam Lộ; - VKSND huyện Cam Lộ; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - ĐDHP của Bị hại; - Dán án; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |