vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Xuân S cùng đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!CẨM!GIÀNG
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 14/2019/HS-ST
Ngày: 22-3-2019
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: !

Ông Đào Văn Hoàn

Ông Hoàng Hồng Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Khương Thị Lơ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/HSST ngày 21-02-2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST- HS ngày 08-3-2019 đối với các bị cáo:

1.!Vũ!Xuân!S, sinh năm 1987 tại tỉnh BN; nơi cư trú: Thôn NĐ, xã LT, huyện LT, tỉnh BN; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Vũ Văn C1 và bà Đỗ Thị L1; tiền sự: không.

Tiền án: Bản án số 20 ngày 28-5-2014, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù và phạt 5.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt tù ngày 07-5-2016; chưa chấp hành hình phạt bổ sung;

Nhân thân: Bản án số 63 ngày 01-3-2019, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngày 26-7-2011, UBND huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong tháng 8/2013.

Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2.! Nguyễn! Bá! L, sinh năm 1984 tại tỉnh BN; nơi cư trú: thôn TT, xã LT, huyện LT, tỉnh BN; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Bá C1 và bà Vũ Thị T1(là thương binh loại A); Tiền án: không.

Tiền sự: Quyết định xử phạt hành chính số 112 ngày 07-8-2018, Công an huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.

Nhân thân: Bản án số 63 ngày 01-3-2019, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3.!Bị!hại: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1984 và anh Lê Văn T, sinh năm 1979; đều cư trú tại: thôn PA, xã CA, huyện CG, tỉnh HD.!

Người đại diện theo ủy quyền của chị Đặng Thị H là anh Lê Văn T.

(Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 01-11-2018, Nguyễn Bá L chở Vũ Xuân S bằng xe đạp mini (L mượn của mẹ đẻ là bà Vũ Thị T1) đi đến địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương với mục đích tìm ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến thôn La B, xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, S và L phát hiện thấy một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, mang BKS 34M6-4552 của anh Lê Văn T dựng ở rìa đường (trong cốp có đựng 01 chiếc tô vít kim loại 4 cạnh, 01 chiếc kìm kim loại, 01 chiếc cờ lê kim loại, là dụng cụ sửa xe). Quan sát thấy không có người quản lý, xe không khóa cổ, khóa càng, S và L thống nhất cùng nhau lấy chiếc xe, L đứng cách chỗ xe máy khoảng 100m để cảnh giới còn S lén lút đi đến cạnh xe, lấy 01 chiếc chìa khóa (loại chìa mở khóa treo) có sẵn trong túi quần cắm vào ổ khóa xe nổ máy và lên xe điều khiển về nhà S cất giấu còn L đạp xe đi sau. Chìa khóa L làm rơi mất không thu giữ được.

Ngày 01-11-2018, anh Lê Anh T có đơn trình báo sự việc.

Ngày 06-11-2018, khi Công an đến nhà Vũ Xuân S giao nộp lại chiếc xe máy cùng 01 chiếc tô vít kim loại 4 cạnh, 01 chiếc kìm kim loại, 01 chiếc cờ lê kim loại là những phụ kiện để trong cốp xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng. Anh T nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường khác.

Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐG-TTHS ngày 08-11-2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện Cẩm Giàng kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wavers màu S đỏ đen, loại xe nữ, vành đũa, BKS 34M6-4552; số máy HC09E6562465, số khung 09096Y562325, đăng ký lần đầu ngày 01-02-2007, đã qua sử dụng có giá trị 6.000.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 19-02-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Vũ Xuân S và Nguyễn Bá L về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Xuân S, Nguyễn Bá L và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân S và Nguyễn Bá L phạm tội trộm cắp tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Xuân S từ 10 đến 12 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.

Tại bản cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng xác định bị cáo S được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng rút tình tiết giảm nhẹ này.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về TNDS và vật chứng: Không phải giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi lấy trộm xe máy Wavers màu S đỏ đen, BKS 34M6-4552 tại thôn La B, xã Kim Giang và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản là đúng, không có ý kiến tranh luận hay khiếu nại về Kết luận định giá của Hội đồng định giá;

Bị cáo S khai thêm: Ngày 28-02-2019, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; bị cáo không kháng cáo và án chưa có hiệu lực.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, lời khai của bị hại tại Cơ quan điều tra; phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐG-TTHS ngày 08-11-2018 và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01-11-2018, tại khu vực thôn La B, xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo S và L đã lén lút chiếm đoạt của anh Lê Văn T 01 chiếc xe máy Honda Wavers, mang BKS 34M6-4552 (trong cốp có đựng 01 chiếc tô vít kim loại 4 cạnh, 01 chiếc kìm kim loại, 01 chiếc cờ lê kim loại là dụng cụ sửa xe) trị giá 6.000.000đ. Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt xe khi chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý, trông coi là vi phạm pháp luật nhưng vì cần tiền tiêu xài các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét về hành vi và giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố các bị cáo về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của người dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không những làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn xã Kim Giang mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của mọi người dân. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

[3] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong vụ án này các bị cáo đều thống nhất việc chiếm đoạt tài sản, không có sự bàn bạc tổ chức phân công. Bị cáo S đề xuất và là người trực tiếp lấy xe, điều khiển về nhà cất giấu nên giữ vai trò đầu, bị cáo L đứng ở ngoài giúp sức cảnh giới giữ vai trò thứ hai.

[4]!Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo là những người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính và xét xử về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo S đã bị kết án theo bản án số 20 ngày 28-5-2014 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do vậy hành vi phạm tội lần này được xác định là tái phạm; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo L có mẹ bà Vũ Thị Tỵ là thương binh loại A do tham gia kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng xác định bị can Vũ Xuân S được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng rút một tình tình tiết giảm nhẹ điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, HĐXX áp dụng mức hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo một thời gian để giáo dục riêng từng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định, hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không còn yêu cầu khoản bồi thường nào khác nên không phải giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe Honda Wave RS, mang BKS 34M6-4552 (trong cốp có đựng 01 chiếc tô vít kim loại 4 cạnh, 01 chiếc kìm kim loại, 01 chiếc cờ lê kim loại) người bị hại khai là dụng cụ sửa xe, đã trả lại cho bị hại nên không phải giải quyết.

Chiếc chìa khóa bị cáo S dùng để mở khóa xe máy đã bị mất; chiếc xe đạp mini màu trắng các bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp là của bà Vũ Thị T1 (mẹ đẻ bị cáo L). Bà T1 không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH

Tuyên!bố bị cáo Vũ Xuân S, bị cáo Nguyễn Bá L phạm Tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ áp dụng!khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân S 11 (mười một) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án

Căn cứ!áp dụng!khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 08 (tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án

Về! án! phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc các bị cáo Vũ Xuân S, Nguyễn Bá L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.!

Về!quyền!kháng!cáo: Các bị cáo Vũ Xuân S, Nguyễn Bá L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi!nhận:!

T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- VKSND tỉnh Hải Dương;!

Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!

- VKSND huyện Cẩm Giàng;

- Công an huyện Cẩm Giàng ;

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.

- Chi cục THADS H. Cẩm Giàng.

Đoàn!Thị!Thúy!

- Bị cáo; bị hại;

- Lưu hồ sơ; lưu VP tòa.

Cỡ chữ