vanban.org

Bản án 14/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 55 và Điều 5 điểm e khoản 1 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V sửa phần hình phạt đối với bị cáo V của bản án hình sự sơ thẩm; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại L giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo L của bản án hình sự sơ thẩm; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh V và Nguyễn Đại L cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Lu…"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 55 và Điều 5 điểm e khoản 1 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HS-PT
Ngày: 06-03-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lộc và bà Đoàn Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung - Là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 0 tháng n m 2019 tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 20/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 n m 2019 đối với bị cáo Nguyễn Minh V và bị cáo Nguyễn Đại L do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V và bị cáo Nguyễn Đại L đối với bản án hình sự sơ thẩm số 158/2018/HS-ST ngày 24 tháng 11 n m 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

* Bị cáo:

1. NGUYỄN MINH V (Tên gọi khác: Không) - Sinh n m: 1977 tại Bình Thuận.

Nơi đ ng ký nhân khẩu thường trú : Thôn Thắng Thuận xã Hàm Thắng huyện Hàm Thuận Bắc Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ v n hóa: /12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt nam; Con ông Nguyễn Minh Đ và bà Nguyễn Thị T; có vợ tên Trần Thị Thanh X và 01 con; Tiền án tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại Thôn Thắng Thuận xã Hàm Thắng huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận.

2. NGUYỄN ĐẠI L (Tên gọi khác: Heo)- Sinh n m:1992 tại Bình Thuận.

Nơi đ ng ký nhân khẩu thường trú: khu phố 5 phường Đức L, Phan Thiết Bình Thuận; nghề nghiệp: làm biển; trình độ v n hóa: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Nguyễn V n Ch và bà Lê Thị A; chưa có vợ con; tiền án tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Đức L thành phố Phan Thiết Bình Thuận.

* Bị hại:

1. Châu Thanh H – sinh n m: 1990;

Trú tại: Khu phố 08 phường Đức L thành phố Phan Thiết Bình Thuận;

2. Nguyễn Văn Ch – sinh n m: 1971;

Trú tại: Khu phố 05 phường Đức L thành phố Phan Thiết Bình Thuận;

* Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Phương L - sinh n m 1975

Trú tại: khu phố 04 phường Xuân An thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.

2. Bà Nguyễn Thị Cẩm Q - sinh n m 1994

Trú tại: khu phố 08 phường Đức L thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên Tòa: Có mặt bị cáo V, bị cáo L, bị hại Ch, bị hại H người làm chứng L người làm chứng Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 02/ /2017 do xích mích trong việc sinh hoạt hằng ngày Nguyễn Minh V và vợ chồng Châu Thanh H Nguyễn Thị Cẩm Q xảy ra cãi vả xô xát. Trong lúc xảy ra xô xát V đã dùng tay đẩy trúng cổ của Quy, H thấy vậy nên đã xông tới dùng tay tát vào mặt V. Sau đó V cùng chị Nguyễn Thị Phương L đi về phòng đóng cửa lại. Tuy nhiên Q vẫn tiếp tục chửi bới và dùng cây gỗ đập mạnh vào cửa phòng V. Qúa bức xúc V lấy 01 cái kéo bếp đi ra để hù dọa những người đứng trước cửa phòng mình. Lúc này H nghe từ trong phòng V có tiếng nói: “Đừng có cầm dao, bỏ dao xuống”, sợ chị Q bị đâm nên H chạy ra để ng n cản thì bị V cầm kéo xông đến đâm trúng 01 nhát vào ngực trái gần cánh tay trái của H. Theo phản xạ H dùng tay chụp đầu kéo lại và khi V rút kéo ra thì H bị rách chảy máu ngón trỏ và ngón cái bàn tay trái. Sau đó H kéo Qvề phòng để b ng bó vết thương.

Nghe tiếng ồn ào trước hành lang dãy trọ ông Nguyễn V n Ch đi ra xem thì nghe Q nói V bị H đâm nên ông Ch liền đi đến tìm V để nói chuyện. Vừa đi đến gần phòng V thì bất ngờ V cầm kéo xông tới đâm 01 nhát vào lưng ông Ch gây thương tích chảy máu. Lúc này Nguyễn Đại L chứng kiến sự việc cha mình bị đâm nên chạy vào can ng n thì bị V dùng kéo đâm sợt sau gáy (nhưng không gây thương tích). Sau đó L chạy về phòng trọ của mình (cách phòng V 25 m) lấy 01 cây tre tròn đặc ruột (để ngay cửa ra vào) dài khoảng 1m20 đầu có gắn một cái móc nhọn bằng kim loại mục đích đánh lại V để trả thù. L cầm cây tre chạy từ phòng của mình đến chỗ V đang đứng trước cửa phòng của V đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào đầu V làm V ngã quỵ xuống đất ngất xỉu tại chỗ. Không dừng lại L còn dùng cây tre trên đánh tiếp 01 cái vào phần ống quyển của chân V. Sau đó L về nhà đưa ông Ch đi cấp cứu tại bệnh viện Tâm Phúc.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 4/2017/TgT ngày 25/7/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận về thương tích của ông Nguyễn V n Ch như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết sẹo phần mềm phức tạp vùng lưng trái đường kính 2 4 cm sẹo xấu;

- Vết sẹo thâm mờ vùng sườn lưng trái kích thước 5 x 0 1 cm;

- Các vết sẹo do vật nhọn gây ra chiều hướng tác động từ sau ra trước.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 5% (Năm phần trăm).

. Kết luận khác: Không

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số

/2017/TgT ngày 25/7/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận về thương tích của anh Châu Thanh H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết sẹo phần mềm vùng ngực trái sẹo lồi xấu kích thước: 4 5 x 0 4 cm: Do vật nhọn tác động chiều hướng tác động từ trước ra sau. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: %;

- Vết sẹo phần mềm kẻ ngón I – II bàn tay trái sẹo liền tốt kích thước 1 7 x 0 1 cm: Do vật nhọn tác động chiều hướng tác động phụ thuộc vào tư thế tay trái của nạn nhân với vật tác động. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1 %.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 4 % (bốn phần trăm).

. Kết luận khác: Không.

Ngày 06/7/2017 và ngày 10/7/2017 ông Ch và anh H có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Minh V.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1/2017/TgT ngày 25/7/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận về thương tích của Nguyễn Minh V như sau:

1. Dấu hiệu qua giám định:

- Chấn thương đầu tụ máu dưới màng cứng đỉnh phải nứt xương sọ thái dương đỉnh hai bên đường nứt lớn hơn 5cm EEG không thấy ổ tổn thương tương ứng xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái liềm não đã được điều trị nội khoa. Hiện để lại di chứng yếu liệt ½ người bên phải mức độ nhẹ ảnh hư ng rối loạn vận ngôn kiểu Broca;

- Chấn thương do vật tày tác động theo chiều hướng từ trên xuống;

- Hiện để lại di chứng yếu liệt ½ người bên phải rối loạn vận ngôn.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 58 % (Năm tám phần trăm).

. Kết luận khác: Không.

Đối với cây kéo mà V đã sử dụng làm công cụ thực hiện tội phạm V khai đã vứt trước cửa phòng trọ của mình. Công an phường Đức L đã kiểm tra tại hiện trường nhưng không thu hồi được.

Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Đại L đã sử dụng 01 thanh tre dài 120cm đường kính 0 cm đầu có gắn 01 móc kim loại để đánh V gây thương tích. Sau khi sự việc xảy ra Nguyễn Đại L đã giao nộp lại 01 thanh tre trên để phục vụ cho quá trình điều tra vụ án. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra

- Công an thành phố Phan Thiết tiếp tục tạm giữ để chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết chờ xử lý.

Về bồi thường dân sự: ông Nguyễn V n Ch và anh Châu Thanh H không yêu cầu Nguyễn Minh V bồi thường về dân sự.

Nguyễn Minh V yêu cầu Nguyễn Đại L bồi thường tổng số tiền là 20.000.000 đồng (đây là số tiền viện phí điều trị thương tích). L đồng ý bồi thường số tiền trên nhưng hiện tại L chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 158/2018/HS-ST ngày 24 tháng 11 n m 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

C n cứ: điểm a khoản 01 Điều 1 4; điểm s khoản 01 khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017)

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Minh V 09 tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

C n cứ: điểm c khoản 0 Điều 1 4; điểm e s khoản 01 02 Điều 51 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đại L phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Nguyễn Đại L 04 n m tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra tòa sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về bồi thường dân sự xử lý vật chứng tiền lãi chậm thi hành án dân sự án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 29 tháng 11 n m 2018 bị cáo Nguyễn Minh V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được giảm án giam thành án treo.

Ngày 07 tháng 12 n m 2018 bị cáo Nguyễn Đại L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:

Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại L không có c n cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V tại phiên tòa người bị hại bãi nại thương tật bị cáo V ảnh hư ng việc đi lại nên xin Ch bị cáo V được hư ng án treo. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo V.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Minh V: xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đơn kháng cáo.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Đại L: xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đơn kháng cáo.

- Ý kiến của bị hại Nguyễn V n Ch và Châu Thanh H: xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt Ch cả hai bị cáo Ch bị cáo V được hư ng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh V và bị cáo Nguyễn Đại L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo đều thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng không oan. Đối với bị cáo V kháng cáo cho rằng trong vụ án bị cáo bị thương tật với tỷ lệ 58%, hiện nay đi lại rất khó kh n hay bị đau đầu và bị cáo hiện còn đang điều trị thương tật, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét Ch bị cáo được giảm án chuyển án giam thành án treo. Đối với bị cáo Nguyễn Đại L kháng cáo cho rằng gia đình bị cáo gặp nhiều khó kh n cha mẹ là lao động nghèo và bị cáo là lao động chính trong gia đình bị cáo rất n n n hối hận về hành vi của bị cáo. Do đó bị cáo kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V và bị cáo Nguyễn Đại L, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Vào khoảng 20 giờ ngày 02/6/2017, xuất phát từ chuyện cãi vả nhau giữa Nguyễn Minh V và vợ chồng Châu Thanh H, Nguyễn Thị Cẩm Q. Khi V về lại phòng trọ của mình nhưng chị Q vẫn đi theo đứng trước cửa chửi bới, do bực tức, V lấy 01 cây kéo chạy ra đâm 01 nhát vào ngực trái của Châu Thanh H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%.

Ông Nguyễn V n Ch nghe tiếng ồn ào đi ra xem và đến phòng V để nói chuyện, vừa tới nơi V dùng kéo xông đến đâm 01 nhát vào lưng ông Ch gây thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 05%.

Bị cáo Nguyễn Đại L, nhìn thấy cha mình bị V đâm nên chạy vào can ng n thì bị V dùng kéo tấn công nhưng không gây thương tích. Sau đó L chạy về phòng trọ của mình lấy một cây tre tròn dài khoảng 120 cm đầu có gắn một cái móc nhọn bằng kim loại quay lại phòng V để trả thù. Tại đây L dùng cây tre đang cầm trên tay đánh theo hướng từ trên xuống trúng vào đầu V làm V ngã quỵ xuống đất, ngất xỉu tại chỗ. L tiếp tục đánh tiếp 01 cái vào phần ống quyển chân của V gây thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 58%.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh V sử dụng cây kéo bằng kim loại là hung khí nguy hiểm để đâm Châu Thanh H gây thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể 4% và đâm Nguyễn V n Ch gây thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể 5%, là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 134 Bộ luật hình sự. Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo về tội danh cũng như điều luật là có c n cứ. Về mức hình phạt tù, khi quyết định hình phạt đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo V và xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Nguyễn V n Ch, Châu Thanh H đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V được hư ng án treo và thừa nhận trong vụ án bị hại cũng có lỗi hiện nay bị cáo V bị thương nặng bị liệt ½ người đi lại khó kh n phải có thời gian để điều trị nên yêu cầu hội đồng xét xử chuyển mức hình phạt cho bị cáo V yêu cầu trên của các bị hại là tự nguyện không ai ép buộc.

Xét yêu cầu của bị hại cũng như ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hội đồng xét xử thấy rằng bản thân bị cáo bị thương tích hiện tại bị di chứng yếu liệt ½ người cần có thời gian điều trị và bị cáo có nhân thân chưa có tiền án tiền sự có nơi cư trú rõ ràng bị cáo bị xét xử với tội danh kh i tố theo yêu cầu bị hại nay bị hại bãi nại nên cần xem xét về phần hình phạt cho bị cáo áp dụng các c n cứ được quy định tại Điều 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội chỉ cần giao bị cáo V cho chính quyền địa phương giám sát là phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Đại L sử dụng cây tre tròn dài 120 cm là hung khí nguy hiểm đánh Nguyễn Minh V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 58% là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản Điều 1 4 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo với mức án 04 n m tù là phù hợp với mức án trên là mức án dưới khung hình phạt được quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; nhân thân chưa có tiền án tiền sự được quy định tại điểm e điểm s khoản 01 khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015.

Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo thành công dân tốt đồng thời để r n đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo không nêu được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét. Do đó Tòa án cấp phúc thẩm không có c n cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại L.

Đối với việc áp dụng các điều luật đối với bị cáo L Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm e điểm s khoản 01 khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử dưới khung hình phạt mà không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự là thiếu sót Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm cho đầy đủ đúng pháp luật. Vấn đề trên Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm khi áp dụng điều luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xét.

[ ] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đại L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Minh V không phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 55 và Điều 5 điểm e khoản 1 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V sửa phần hình phạt đối với bị cáo V của bản án hình sự sơ thẩm;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại L giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo L của bản án hình sự sơ thẩm;

C n cứ điểm a, khoản 01 Điều 1 4; điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017)

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Nguyễn Minh V 09 tháng tù nhưng Ch hư ng án treo thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Minh V cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Thắng,huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo V đang cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.

- C n cứ điểm c khoản 0 Điều 1 4; điểm e điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Điều 54 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đại L phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Xử phạt: Nguyễn Đại L 04 n m tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Đại L phải nộp 200.000 đồng (Hai tr m nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Minh V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Minh V.

Cỡ chữ