vanban.org

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Trúc M được ly hôn với anh Võ Chúc P. 2/ Về con chung: Giao 01 con chung là Võ Quốc K, sinh ngày 02/9/2017 cho chị Hà Thị Trúc M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân Gia đình sơ thẩm giữa chị Hà Thị Trúc M và anh Võ Chúc P"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18-4-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Mai Độ - Bí thư Đoàn Phường Châu Văn Liêm.

2. Bà Ngô Thị Út Hậu - Hội Chữ thập đỏ Quận Ô Môn.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Trúc M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu vực Đ, phường H, quận M, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Võ Chúc P, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu vực Đ, phường H, quận M, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17-9-2018 và trình bày của các đương sự, vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết nên chị Hà Thị Trúc M và anh Võ Chúc P tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 09-6-2015 tại UBND phường H, quận M, thành phố Cần Thơ. Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung là Võ Quốc K, sinh năm 2017.

Chị M cho rằng: thời gian đầu kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến tháng 3 năm 2018 thì mâu thẫn càng gay gắt. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm về cuộc sống, anh P không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình. Chị M đã cố khuyên can để vợ chồng cùng nhau vun vén hạnh phúc gia đình, lo cho con cái nhưng anh P vẫn không thay đổi, anh bỏ vợ con về nhà cha mẹ ruột sinh sống và anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được nên Chị M yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh P.

Về con chung: Hiện con đang sống ổn định với chị M, khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con. Chị M không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chi Mai xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản, nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu Toà án giải quyết bằng vụ án khác.

Anh Võ Chúc P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên. Bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Hà Thị Trúc M khởi kiện xin ly hôn với anh Võ Chúc P và yêu cầu trực tiếp nuôi con, nên xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa công dân và công dân được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

2 Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhiều lần tham gia phiên hòa giải nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn để tham gia phiên tòa và tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

3 Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND phường H, quận M, thành phố Cần Thơ nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

4 Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ; xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét chị M cho rằng chị và anh P đã phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng thời gian dài và mâu thuẫn gay gắt từ tháng 3 năm2018. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh P không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc giúp đỡ vợ con và chị không thể tiếp tục chung sống với anh P nên đã sống ly thân. Nay tình cảm của chị dành cho anh P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn. Anh P vắng mặt và không gửi đến Tòa án văn bản tài liệu nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị M thể hiện anh P không còn thiết tha gì đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị M. Điều này cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị đã thật sự rạn nứt, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Chị M yêu cầu xin ly hôn với anh P là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân Gia đình.

[5 Xét xề con chung: Chị M xác định vợ chồng có 01 con chung là Võ Quốc K. Khi ly hôn, chị M yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con đến trưởng thành, không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Anh P không có ý kiến gì về yêu cầu này. Xét cháu Võ Quốc K đang sống ổn định với Chị M và tính thời điểm xét xử con chung dưới 36 tháng tuổi nên giao con cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Song, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là thiêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở anh P thực hiện quyền này. Chị M không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

6 Về tài sản chung và nợ chung: Chị M xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh P vắng mặt. Do đó, về tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu và theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.

7 Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2015;

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 177; Điều 227; Điều 228;Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Trúc M được ly hôn với anh Võ Chúc P.

2/ Về con chung: Giao 01 con chung là Võ Quốc K, sinh ngày 02/9/2017 cho chị Hà Thị Trúc M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Võ Chúc P, không ai được quyền ngăn cản anh P thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các bên đương sự có yêu cầu và theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.

4/ Về án phí: Chị Hà Thị Trúc M phải chịu án phí vụ án hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 005747 ngày 07-12-2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Chị Hà Thị Trúc M đã nộp xong án phí.

Trong hạn 15 ngày: kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương đối với bị đơn được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ