vanban.org

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân : Xử chấ p nhậ n yêu cầ u củ a chị Vũ Thị H, cho chị Vũ Thị H đượ c ly hôn vớ i anh Kiề ng Văn H . (Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đăng ký kế t hôn ngày 04/8/2008).

Về con chung: Giao con chung là Kiề ng Minh H, sinh ngà y 15/7/2009 cho chị Vũ Thị H có trách nhiệ m trự c tiế p nuôi dưỡ ng , chăm só c, giáo dục đến khi chá u Hiế u đủ 18 tuổ i. Anh Kiề ng Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Vũ Thị H là 1.500.000đ/tháng cho đến khi ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân : Xử chấ p nhậ n yêu cầ u củ a chị Vũ Thị H, cho chị Vũ Thị H đượ c ly hôn vớ i anh Kiề ng Văn H . (Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đăng ký kế t hôn ngày 04/8/2008).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 04/7/2019
V/v: Ly hôn, tranh chấ p nuôi con
và chia tà i sả n chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạ m Văn Xuân

2. Ông Lý Hoà ng Anh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hứ a Văn Nghiệ p - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng tham gia phiên toà: Ông Phạ m Đăng Bằ ng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1976, có mặt.

Địa chỉ: Trường mầm non xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn.

2. Bị đơn: Anh Kiềng Văn H, sinh năm 1961, có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Kiềng Nhật T, sinh năm 1988, vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- ChịTrịnh Thị Đ, sinh năm 1994, vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.

- Bà Kiềng Thị N, sinh năm 1963, có mặt. Địa chỉ: Y, xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

- Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1962, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Số nhà A, ngõ B, đường B, khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

- Chị Ngô Thị Q, sinh năm 1979, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt . Địa chỉ: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2018, các lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân : Chị và anh Kiềng Văn H kế t hôn trên cơ sở tự nguyệ n, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện Hữu L vào thá ng 8/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc và gặp nhiều bất hòa về cách sống . Mâu thuẫ n vợ chồng bắt đầu từ năm 2009, khi chị sinh cháu Kiềng Minh H, chị cảm nhận anh Kiề ng Văn H không có tình cảm với chị , không quan tâm , chăm sóc cho hai mẹ con chị , thỉnh thoảng có mâu thuẫn cãi nhau về kinh tế gia đình. Chị đã nhiều lần bày tỏ cảm nghĩ của mình nhưng anh Kiềng Văn H không nói gì và cũng không thay đổi cách sống. Trướ c khi kế t hôn vớ i anh Kiềng Văn H chị có 01 ngườ i con riêng vớ i chồng trướ c nên khi về sống chung anh Kiềng Văn H hay phân biệt đối xử với con riêng của chị và mỗi lần vợ chồng cãi nhau anh Kiềng Văn H lại hay đay nghiến quá khứ của chị khiến chị và con riêng cảm thấy không được tôn trọng và bị tổn thương. Mâu thuẫn trầm trọng nhấ t là vào tháng 5 năm 2018, khi con riêng của chị xin đi trải nghiệm cùng nhà trường, anh Kiềng Văn H lại không muốn cho đi và dùng những lời lẽ xúc phạm nên mẹ con chị đã bỏ sang nhà chị gái ở một tuần để anh Kiềng Văn H nhận ra lỗi lầm nhưng anh Kiềng Văn H không hiểu ra mà còn cư xử của quyền, gia trưởng, từ đó vợ chồng không quan tâm đế n nhau . Tháng 10/2018 chị và hai con ra ngoài thuê nhà trọ sinh sống, vợ chồng ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, anh Kiềng Văn H không chu cấp về tài chính, không thăm nom hay quan tâm gì đến ba mẹ con chị . Nay chị xác định không còn tình cảm không cò n nên chị yêu cầ u đượ c ly hôn với anh Kiềng Văn H.

Về con chung: chị và anh Kiềng Văn H có 01 con chung tên là Kiềng Minh H, sinh ngày 15/7/2009. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh Kiềng Văn H cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng đến khi con trưởng thành. Còn con riêng củ a chị là Nguyễn Thị Thanh Thảo, sinh ngày 29/7/2002, chị tự có trách nhiệm, không yêu cầu gì ở anh Kiềng Văn H.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị có 01 ngôi nhà cấp 4 khép kín, xây cay năm 2012 tại thôn A, xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn và 01 trái nhà phía trướ c xây cay, mái proximang, trầ n nhự a, nề n lát gạch hoa Ceramic, cử a khung sắ t bịt tôn. Được xây trên đất là tài sản riêng của anh Kiề ng Văn H. Trong nhà có mộ t số tài sản chung gồ m: 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 Tivi; 01 kệ để tivi; 01 điều hòa; 01 tủ lạnh; 01 bếp gas; 01 bộ bàn ăn; 01 bình nóng lạnh; 01 xe HONDA - LEAD biể n kiể m soát 12H1 - 09099. Khi ly hôn chị để lại toàn bộ tài sản cho anh Kiềng Văn H sở hữ u, sử dụng và yêu cầu anh Kiềng Văn H trả bằ ng tiề n cho chị một nửa giá trị tài sản chung. Các tài sản khác gồ m 01 bình lọc nướ c; 02 quạt trầ n tự thỏa thuậ n, không yêu cầ u Tòa án giải quyế t.

Về nợ chung: Không có .

Đối với các khoản nợ mà anh Kiề ng Văn H nêu , như: nợ cháu Kiềng Nhật T (con riêng anh H) số tiề n 20.000.000đồng chị không biết. Khi về chung sống với anh Kiề ng Văn H thì cháu Kiềng Nhật T số ng chung cù ng hai vợ chồ ng chị. Năm 2012 cháu Kiềng Nhật T đi làm về có đưa cho anh Kiề ng Văn Hkhoảng 20.000.000đ nói để vợ chồng chị trang trải cuộc sống và lấy vợ cho cháu, anh Kiề ng Văn H là người nhận tiền , bản thân chị không hỏi vay tiề n của cháu Kiềng Nhật T lầ n nà o. Ngoài ra, năm 2013 anh chị có đến nơi trọ của cháu Kiềng Nhật T vợ là Trịnh Thị Đ chơi, do thấy vợ chồ ng chị khó khăn về kinh tế nên vợ chồng cháu Kiềng Nhật T có đưa cho vợ chồng chị 03 chỉ vàng 9999 để trang trải cuộc sống và chị có nói với cháu Kiềng Nhật T nếu sau này vợ chồng chị mua đất cho thì không tính toán 03 chỉ vàng 9999 này nữa, còn nếu vợ chồ ng chị không mua được đất cho thì vợ chồng chị sẽ có trách nhiệm trả 03 chỉ vàng 9999 này. Đối với khoản nợ 02 chỉ vàng 9999 của chị Kiềng Thị N chị có được biết do nghe chị Kiề ng Thị Nhình nó i lại, chị không được bàn bạc vớ i anh Kiề ng Văn H đi vay tiề n hoặ c vàng từ chị Kiềng Thị N. Tuy nhiên, năm 2018 khi anh Kiề ng Văn H nghỉ chế độ 108 về đượ c hưở ng mộ t khoả n tiề n hơn 100.000.000đ, vợ chồ ng chị đã bà n bạ c thố ng nhấ t mang tiền đi trả cho vợ chồ ng chá u Kiề ng Nhậ t T và chị Kiềng Thị Nhình, anh Kiềng Văn H là người mang tiền đi trả , nhưng thực tế đã trả hay chưa chị không biết, nay chị không chị u trá ch nhiệ m đố i vớ i cá c khoả n nợ trên . Đối với khoản nợ chị Hoàng Thị D 17.000.000đ chị cũng không biết, không được hỏ i vay . Chị có đ ược nhận 17.000.000đ từ chá u Nguyễ n Thị Thanh Thả o do anh Kiề ng Văn H đưa là củ a chung vợ chồ ng không phải vay nợ của ai nên nay chị không đồng ý trả chị Hoàng Thị D như anh Kiề ng Văn H yêu cầ u.

Tại biên bản ghi lờ i khai ngày 13/3/2019 và những lời khai tiếp theo, bị đơn anh Kiề ng Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị H kế t hôn có đăng ký vào năm 2008. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận. Đế n tháng 10 năm 2018 anh có nghe hàng xóm đồn thổi chị Vũ Thị H có quan hệ bất chính với người khác, anh có hỏi nhưng chị Vũ Thị H không nhận, do vậy vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Những mâu thuẫn chị Vũ Thị H trình bày có phần đúng, có phần không đúng, như việ c anh quan tâm đến con chung và con riêng như nhau chứ không phân biệ t như chị Vũ Thị H trình bày. Mỗi lần vợ chồng mâu thuẫn, chị Vũ Thị H không mang tính chất xây dựng mà còn gây thêm áp lực cho anh cả trong quan hệ xã hội cũ ng như trong công việc giảng dạy, vợ chồng bất đồng về cách sống và cách nuôi dạy con. Từ thá ng 10/2018 vợ chồ ng số ng ly thân cho đến nay, trong thời gian ly thân chị Vũ Thị H cấm anh không được đến nơi chị Vũ Thị H ở nên anh đã không đến gọi chị Vũ Thị H về, thi thoảng chị Vũ Thị H có về nhà trao đổi việc nhà và việ c con cái nhưng vợ chồng không ngồi nói chuyện được mà lại cãi nhau trầm trọng hơn, nay chị Vũ Thị H xin ly hôn anh không đồng ý mà yêu cầu được đoàn tụ để nuôi dạy các con. Nhưng nế u chị Vũ Thị H kiên quyế t yêu cầ u ly hôn, anh cũ ng đồ ng ý ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là chá u Kiề ng Minh H , sinh ngà y 15/7/2009. Trường hợp phải ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu chị Vũ Thị H cấp dưỡng nuôi con. Nế u chị Vũ Thị H đượ c nuôi con, anh chỉ đồng ý cấ p dưỡ ng 750.000đ/tháng, cấ p dưỡ ng theo từ ng thá ng. Con riêng của chị Vũ Thị H anh sẽ vẫn quan tâm theo khả năng, điều kiện của anh.

Về tài sản chung gồ m: 01 ngôi nhà cấp 4 khép kín, xây cay năm 2012 tại thôn A, xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn và 01 trái nhà phía trướ c xây cay, mái proximang, trầ n nhự a, nề n lát gạch hoa Ceramic, cử a khung sắ t bịt tôn. Được xây trên đất là tài sản riêng của anh Kiề ng Văn H. Trong nhà có mộ t số tài sản chung như: 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 Tivi; 01 kệ để tivi; 01 điều hòa; 01 tủ lạnh; 01 bếp gas; 01 bộ bàn ăn bằ ng gỗ ; 01 xe máy hiệ u HONDA - LEAD biển kiểm soát 12H1 - 09099, các tài sả n trên đã đượ c xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản vào ngày 24/4/2019. Anh không đồng ý với ý kiến chia tài sản chung mà chị Vũ Thị H đưa ra vì bản thân anh hiệ n không có thu nhậ p , không có khả năng chi trả tiề n chênh lệch tài sản chung cho chị Vũ Thị H. Nên anh yêu cầu để cho chị H quản lý, sử dụng một nửa căn nhà gồm phần gian trong (phòng ngủ 2) và 01 nhà vệ sinh cùng toàn bộ các tài sản khác như bộ bàn ghế gỗ; 01 Tivi; 01 kệ để tivi; 01 chiế c điều hòa 2 chiều; 01 chiế c tủ lạnh SHAPP; 01 chiế c bếp gas; 01 bộ bàn ăn; 01 bình nóng lạnh; 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1 - 09099. Còn anh quản lý sử dụng nửa căn nhà còn lại và bên nào sử dụng phần nhiều tài sản phải trả tiền chênh lệch cho bên còn lại. Các tài sản khác gồ m 01 bình lọc nướ c; 02 quạt trầ n cho chị Vũ Thị H sở hữ u, sử dụng, anh không yêu cầ u Tòa án giải quyế t.

Về nợ chung: Vợ chồng có các khoản nợ chung như: Nợ chị Hoàng Thị D 17.000.000đ và o năm 2019; Nợ chị Kiềng Thị N 2 chỉ vàng 9999 năm 2012; Nợ con riêng củ a anh là cháu Kiềng Nhật T 20.000.000đ và 3 chỉ vàng 9999. Khi ly hôn anh yêu cầu chị Vũ Thị H cùng có trách nhiệm trả các khoản nợ trên vớ i anh.

Tại bản tự khai ngày 08/4/2019 và những lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị D khai: Bà là chị dâu họ của chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H . Ngày 22/01/2019 bà có cho anh Kiề ng Văn H vay số tiề n 17.000.000đ, hai bên không lậ p giấ y tờ vay , anh H là người đến hỏi vay và nhận tiền, mục đích vay để trả nợ tiề n thấ u chi Ngân hà ng cho chị H và vay trong thờ i kỳ hôn nhân n ên nay bà yêu cầ u cả chị H và anh H mỗ i ngườ i mộ t nử a số nợ , bà không yêu cầ u trả lã i.

Tại bản tự khai ngày 10/4/2019 và những lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiề ng Thị N trình bày: bà là em gái ruột củ a anh Kiề ng Văn H còn chị H là chị dâu. Năm 2012 bà có được cho chị H và anh H vay 02 chỉ vàng 9999, do anh H nhậ n và ng, mục đích là để trang trải sinh hoạt trong gia đì nh. Khi vay do là anh em nên hai bên không lậ p giấ y tờ vay , nay anh chị H - Hiêng ly hôn, bà yêu cầu mỗi người trả 01 chỉ vàng 9999, bà không yêu cầ u tí nh lã i.

Tại bản tự khai ngày 10/4/2019 và những lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Kiề ng Nhậ t T khai: Anh Tân là con tra i ruộ t của ông Kiề ng Văn H, còn cô Vũ Thị H là mẹ kế. Năm 2012 khi bố và cô Hạnh làm nhà, anh có đó ng gó p số tiền là 20.000.000đ, đây không phải tiền cho vay mượn mà do anh tự nguyệ n đó ng gó p vì lú c đó anh cò n số ng chung vớ i bố và cô Hạnh. Nay bố anh và cô Hạnh ly hôn có yêu cầu giải quyết về tài sản chung là căn nhà , anh không yêu cầ u trả lại số tiề n 20.000.000đ trên và cũng không đòi hỏi quyền lợi gì trong khối tài sản chung củ a bố và cô Hạnh. Chị Trịnh Thị Đ và anh Kiề ng Nhậ t T khai: Năm 2015 bố và cô Hạnh có vay của vợ chồ ng anh chị 03 chỉ vàng 9999, mục đích để trang trải sinh hoạt trong gia đình, do là người trong gia đình nên không làm giấy tờ vay, không có người làm chứng. Nay bố và cô Hạnh ly hôn, anh, chị yêu cầ u mỗ i ngườ i trả 1,5 chỉ vàng 9999, không yêu cầ u trả lã i.

Tại biên bả n ghi lờ i khai ngà y 16/5/2019 người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Thị Đ khai: Chị là vợ của anh Kiề ng Nhậ t T. Năm 2015 ông Kiề ng Văn H là bố chồng chị có gọi điện thoại trước ch o chồ ng chị hỏ i vay vàng, sau đó ông Kiề ng Văn H và cô Vũ Thị H có đến nơi ở của vợ chồng chị nhậ n 03 chỉ vàng 9999, nói vay về trang trải cuộc sống , hai bên không là m giấ y tờ vay, không hẹ n thờ i gian trả . Nay cô Hạ nh và ông Hiêng ly hôn yêu cầ u cả hai cù ng có trá ch nhiệ m trả cho vợ chồ ng chị số và ng trên , mỗ i ngườ i trả 1,5 chỉ vàng 9999.

Tại bản tự khai ngày 07/5/2019 và những lời khai tiếp theo Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Quế khai: Chị là em dâu của chị H và anh H. Năm 2013 chị Vũ Thị H có nhờ chị đứng tên vay tiền Ngân hàng mua chiế c xe HONDA-LEAD biể n kiể m soá t 12H1 - 09099, đăng ký xe mang tên chị nhưng xe là của chị H và anh H, không liên quan đế n chị nên chị từ chố i tham gia tố tụ ng và đề nghị giả i quyế t vắ ng mặ t.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành phiên họ p tiế p cậ n công khai chứ ng cứ và hoà giải theo quy định nhưng cá c đương sự không tự thỏ a thuậ n đượ c việ c giả i quyế t toàn bộ nội dung vụ án. Do vậ y Tòa án đã quyết định đưa vụ á n ra xé t xử .

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn, bị đơn và ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan bà Kiề ng Thị N có mặt, giữ nguyên ý kiế n, yêu cầu khởi kiện như đã nêu ở phầ n trên . Nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặ t đề u có đơn xin giải quyết vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình bày có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, quan điểm tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thờ i gian chuẩ n bị xé t xử: Việ c xá c đị nh thẩ m quyề n thụ lý , thông bá o thụ lý , xác định quan hệ pháp luật tranh chấ p, tư cá ch phá p lý của những người tham gia tố tụng, việ c giao nộ p, thu thậ p chứ ng cứ , thủ tục cấp, thông bá o, tố ng đạ t cá c văn bả n tố tụ ng , quyết định đưa vụ án ra xét xử và gử i hồ sơ cho Viện kiểm sát đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung và thẩm quyền theo quy đị nh tạ i cá c Điề u28, 39, 68, 93, 98, 101, 104, 177, 195, 196, 203, 208, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việ c tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng đối với phiên tòa dân sự sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của ngườ i tham gia tố tụ ng: nguyên đơn, bị đơn và ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan đã thực hiện đầ y đủ quyền và nghĩa vụ tố tụ ng theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân : Áp dụng Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấ p nhậ n yêu cầ u ly hôn củ a chị Vũ Thị H đượ c ly hôn vớ i anh Kiề ng Văn H . Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị Vũ Thị H đượ c trự c tiế p nuôi dạ y, chăm só c, giáo dục con chung là Kiề ng Minh H đến khi cháu Hiếu đủ 18 tuổ i. Anh Kiề ng Văn H phải cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000đ/tháng đến khi chá u Hiế u đủ 18 tuổ i. Anh Kiề ng Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đượ c ngăn cả n . Về tà i sả n chung : Áp dụng Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 213, 219 Bộ luậ t Dân sự : đề nghị giao cho chị Vũ Thị H quản lý, sở hữ u, sử dụ ng 01 chiế c xe mô tô HONDA-LEAD biể n kiể m soát 12H1 - 09099, 01 bộ bàn ghế gỗ, 01 Tivi Sony 42 inh, 01 kệ để tivi bằ ng gỗ , 01 chiế c tủ lạnh, 01 bộ bàn ăn bằ ng gỗ . Tổ ng giá trị tài sản chị Vũ Thị H đượ c nhậ n là 49.000.000đ. Giao cho anh Kiề ng Văn H sở hữ u, sử dụng nhà, công trình, vậ t kiế n trúc trên đấ t cùng các tài sản gồ m 01 điề u hòa nhiệ t độ hai chiề u hiệ u Daikin, 01 bình nóng lạnh, 01 bếp ga, trầ n ốp gỗ , gạch ốp chân tườ ng. Tổ ng giá trị tài sản anh Kiề ng Văn H đượ c nhậ n là 262.094.000đ và anh Kiề ng Văn H phải thanh toán chênh lệ ch giá trị tài sản cho chị Vũ Thị H là 106.547.000đ. Về nợ chung: Áp dụng Điều 466, 469 Bộ luậ t Dân sự ; Điề u 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác nhậ n chị H và anh H có nghĩa vụ phải trả các khoản nợ chung gồm 03 chỉ vàng 9999 cho anh Tân, 17.000.000đ cho bà Duyên, 02 chỉ vàng 9999 cho bà N. Án phí và chi phí tố tụng khác : Anh Kiề ng Văn H có trách nhiệm trả cho chị Vũ Thị H 1.450.000đ chi phí tiế n hà nh tố tụ ng chị H đã thanh toá n . Chị H phải chịu 300.000đ á n phí ly hôn và 7.777.350đ á n phí giá ngạch; anh H phải chịu 300.000đ á n phí cấ p dưỡ ng và 7.777.350đ á n phí giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn thể hiện tại Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyể n số 01/2007, đăng ký ngà y 04/8/2008 của Uỷ ban nhân dân xã Sơn Hà , huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, do đó hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đã nảy sinh mâu thuẫn bất đồng , do nghi ngờ chị H có quan hệ ngoại tình; mâu thuẫ n trong việ c tạ o lậ p kinh tế ; mâu thuẫ n trong việ c nuôi dạ y con riêng của vợ; mâu thuẫ n về tí nh cá ch, quan điể m số ng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay, không cò n quan tâm đế n nhau . Bản thân anh Kiề ng Văn H cũng thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫ n bấ t hò a , nhưng nay chị H xin ly hôn anh không đồ ng ý mà yêu cầ u đượ c đoà n tụ để cù ng nhau nuôi dạ y con . Tuy nhiên anh Kiề ng Văn H không đưa ra đượ c phương á n để vợ chồ ng có thể quay về chung số ng , hơn nữ a trong thờ i gian ly thân anh cũ ng không gọ i chị H quay về , không thể hiệ n thiệ n t rí mong muố n đoà n tụ . Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh H đã trầ m trọ ng, đờ i số ng chung không thể ké o dà i, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầ u củ a chị H, cho chị Vũ Thị H đượ c ly hôn vớ i anh Kiề ng Văn H.

Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H có 01 ngườ i con chung là cháu Kiề ng Minh H, sinh ngày 15/7/2009, cả chị H và anh H đều yêu cầ u đượ c nuôi con chung. Xét về điều kiện nuôi dạy con , cả chị H và anh H đều có đủ điều kiện nuôi dạ y con như nhau , tuy nhiên nguyệ n vọ ng củ a chá u Kiề ng Minh H muố n số ng cù ng mẹ là chị Vũ Thị H, hơn nữ a từ khi ly thân chá u Hiế u đã đi theo chị H, do chị H chăm só c, nuôi dạ y, cuộ c số ng củ a chá u đã ổ n đị nh , nên cầ n chấ p nhậ n yêu cầ u củ a chị H, giao chá u Kiề ng Minh H cho chị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dạy, chăm só c, giáo dục đến khi cháu Hiếu đủ 18 tuổ i. Anh Kiề ng Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cả n.

Về yêu cầ u cấ p dưỡ ng và mức cấp dưỡng nuôi con chung: anh Kiề ng Văn H không trự c tiế p nuôi dạ y con chung nhưng vẫ n phả i có trá ch nhiệ m vớ i con. Xét về mứ c cấ p dưỡ ng: hiệ n anh Kiề ng Văn H đã nghỉ hưu, nguồ n thu nhậ p chính từ khoản lương hưu là 6.413.000đ/tháng và không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính nào khác , như vậ y anh Kiề ng Văn H có đầy đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng chị Vũ Thị H yêu cầ u có phần quá cao, không phù hợ p so vớ i thu nhậ p thự c tế của anh Kiề ng Văn H, do vậ y Hộ i đồ ng xé t xử sau khi xem xé t , cân nhắ c và quyế t đị nh anh Kiề ng Văn H có nghĩa vụ cấ p dưỡ ng nuôi con cho chị Vũ Thị H vớ i mứ c cấ p dưỡng là 1.500.000đ/tháng cho đế n khi chá u Kiề ng Minh H đủ 18 tuổ i là phù hợ p, cấ p dưỡ ng theo từ ng thá ng và thờ i gian cấ p dưỡ ng đượ c thự c hiệ n từ khi bản án, quyế t đị nh ly hôn có hiệ u lự c thi hà nh . Anh Kiề ng Văn H phải chịu lãi phát sinh trong trườ ng hợ p chậ m thự c hiệ n nghĩ a vụ cấ p dưỡ ng theo quy đị nh của pháp luật và có quyền , nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H đều thừa nhận vợ chồ ng có tà i sả n chung gồ m: 01 nhà cấp 4 khép kín, phòng khách trần ốp gỗ, gạch ốp chân tườ ng xây năm 2012 tại thôn A, xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn và 01 trái nhà phía trướ c xây cay, mái proximang, trầ n nhự a, nề n lát gạch hoa Ceramic, cử a khung sắ t bịt tôn. Toàn bộ đượ c xây trên thửa đất số 125 tờ bản đồ số 05 diệ n tích 286m2, đấ t là tài sản riêng của anh Kiề ng Văn H. Trong nhà có mộ t số tài sản chung gồ m: 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 Tivi Sony 42 in; 01 kệ để tivi bằ ng gỗ ; 01 chiế c điều hòa 2 chiều hiệ u DAIKIN; 01 chiế c tủ lạnh SHAPP; 01 bếp gas; 01 bộ bàn ăn bằ ng gỗ ; 01 bình nóng lạnh; 01 xe mô tô hiệ u HONDA - LEAD biể n kiể m soát 12H1- 09099. Chị H có ý kiến để lại toàn bộ tài sản chung cho anh H quản lý, sở hữ u, sử dụ ng và yêu cầ u anh H có nghĩa vụ trả ½ giá trị tài sản chung bằng tiền cho chị , anh H không đồ ng ý . Xét thấy, các bên đương sự không tự thoả thuận được việc chia tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử xem xét giải quyế t theo quy định của pháp luật.

Căn cứ kết quả xem xé t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 24/4/2019, xác định: 01 ngôi nhà cấp 4 khép kín, xây cay năm 2012 tại thôn A, xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn, mái lợ p tôn, cử a đi, cử a sổ gỗ hồ ng sắ c, nề n lát gạch hoa Ceramic và 01 trái nhà phía trướ c xây cay, mái proximang, trầ n nhự a, nề n lát gạch hoa Ceramic, cử a khung sắ t bịt tôn. Toàn bộ nhà, công trình, vậ t kiế n trúc trên đấ t có tổ ng trị giá là 236.594.000đ. Ngôi nhà và các công trình trên đấ t đượ c xây trên thửa đất số 125 tờ bản đồ số 05, diện tích 286 m2 đấ t là tài sản riêng của anh Kiề ng Văn H đã được Ủy ban nhân dân huyệ n H cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đấ t số AE338125 ngày 14/11/2016. Thử a đấ t có tứ cậ n tiế p giá p như sau : Phía Đông giáp đường bê tông ; phía Tây giáp đường bê tông; phía Nam giáp đất ông Nguyễn Xuân Tân ; phía Bắc giáp đất ông Bình và bà Đặng Thị Sắc . Trong nhà có cá c tà i sả n chung gồ m : 01 bộ bàn ghế gỗ mua năm 2017 có giá 18.000.000đ; 01 Tivi Sony 42 inh mua năm 2016 có giá 7.000.000đ; 01 kệ để tivi bằ ng gỗ mua năm 2017 có giá 4.000.000đ; 01 chiế c điều hòa 2 chiều hiệ u DAIKIN mua năm 2016 có giá 7.000.000đ; 01 chiế c tủ lạnh SHAPP mua năm 2018 có giá 3.000.000đ; 01 chiế c bếp gas mua năm 2018 có giá 500.000đ; 01 bộ bàn ăn bằ ng gỗ mua năm 2017 có giá 3.000.000đ; 01 bình nóng lạnh mua năm 2018 có giá 1.000.000đ; trầ n nhà ốp gỗ mỡ và gạch ốp chân tường hai đương sự thố ng nhấ t giá trị là 17.000.000đ; 01 xe mô tô hiệ u HONDA - LEAD biể n kiể m soát 12H1 - 09099 mua năm 2013 có giá 14.000.000đ. Các tài sản là đồ vậ t trong nhà hai đương sự tự thỏa thuậ n, có tổ ng trị giá là 74.500.000đ. Tổ ng trị giá nhà, công trình, vậ t kiế n trúc và các tài sản trong nhà là 311.094.000đ.

Về phân chia tà i sả n chung : Đối với nhà, các công trình, vậ t kiế n trú c trên đấ t là của chung vợ chồng nhưng đượ c xây trên thử a đấ t là tài sản riêng củ a anh Kiề ng Văn H , là tài sản gắ n liề n vớ i đấ t không thể di dờ i và mộ t số đồ vậ t, thiế t bị gắ n vớ i ngôi nhà như 01 chiế c điều hòa 2 chiều hiệ u DAIKIN; 01 bình nóng lạnh; trầ n nhà ốp gỗ mỡ ; gạch ốp chân tườ ng; bế p ga là nhữ ng tài sản gắ n liề n vớ i ngôi nhà. Xét về chi phí dịch chuyể n so vớ i giá trị tài sản không phù hợ p nên chấ p nhậ n yêu cầ u của chị Vũ Thị H, giao căn nhà, vậ t kiế n trúc và mộ t số đồ vậ t gồ m 01 chiế c điều hòa 2 chiều hiệ u DAIKIN; 01 bình nóng lạnh; trầ n nhà ốp gỗ mỡ ; gạch ốp chân tườ ng; bế p ga, có tổ ng trị giá tài sản là 262.094.000đ cho anh Kiề ng Văn H sở hữ u, sử dụng. Các tài sản khác gồ m 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 Tivi Sony 42 inh; 01 kệ để tivi bằ ng gỗ ; 01 tủ lạnh SHAPP; 01 bếp gas; 01 bộ bàn ăn bằ ng gỗ ; 01 xe mô tô hiệ u HONDA - LEAD biể n kiể m soát 12H1 - 09099 có tổ ng trị giá là 49.000.000đ, giao cho chị Vũ Thị H sở hữ u, sử dụng. Anh Kiề ng Văn H có trách nhiệ m bù trừ chênh lệ ch tài sản cho chị Vũ Thị H tương ứng vớ i số tiề n là 106.547.000đ. Các tài sản khác gồ m 02 quạt trầ n, 01 bình lọc nướ c, trướ c khi mở phiên tòa các đương sự không yêu cầ u giải quyế t nên Hộ i đồ ng xét xử không xem xét.

Đối với số tiề n 20.000.000đ ông Kiề ng Văn H khai nợ con là Kiề ng Nhậ t T để xây nhà, bản thân anh Kiề ng Nhậ t T lại cho rằng đó là tiền anh cùng đó ng gó p để xây nhà , không phả i khoả n tiề n cho vay , nay anh không yêu cầ u hoàn trả, không yêu cầ u đượ c hưở ng quyề n lợ i trong khố i tà i sả n chung giữ a chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H, nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.

Về nợ chung như: nợ của anh Kiề ng Nhậ t T 03 chỉ vàng 9999, nợ bà Kiề ng Thị N 02 chỉ vàng 9999, nợ bà Hoàng Thị D 17.000.000đ, chị Vũ Thị H không thừ a nhậ n là nợ chung và k hông nhậ n trá ch nhiệ m trả . Tuy nhiên chị Vũ Thị H khai chị có đượ c nhậ n 03 chỉ vàng từ cháu Kiề ng Nhậ t T để sử dụ ng chi dùng trong gia đình . Còn 02 chỉ vàng vay bà Kiề ng Thị N khi vay chị không biế t nhưng chị có được cùng anh Kiề ng Văn H bàn bạc mang tiền đi trả cho bà Kiề ng Thị N , mục đích vay theo ông Kiề ng Văn H khai là sử dụ ng trang tr ải sinh hoạ t trong gia đì nh . Do vậ y xá c đị nh cá c khoả n nợ trên chị Vũ Thị H có biế t, là khoản vay trong thờ i kỳ hôn nhân và mụ c đí ch sử dụ ng là chi dù ng sinh hoạt gia đình nên xác định là nợ chung vợ chồng , nên chị Vũ Thị H và Kiề ng Văn Hcùng phải có trách nhiệm trả các khoản nợ trên

. Đối với số tiề n 17.000.000đ nợ bà Hoàng Thị D , căn cứ và o lờ i khai củ a chá u Nguyễ n Thị Thanh Thả o xác nhận được nhận số tiề n này từ ông Kiề ng Văn H dặ n mang về đưa cho mẹ là chị Vũ Thị H, bản thân chị H cũng thừa nhận được nhận số tiền 17.000.000đ từ con gá i là Nguyễ n Thị Thanh Thả o do ông Hiêng đưa , chị Vũ Thị H sử dụ ng để thanh toá n thấ u chi vớ i Ngân hà ng phù hợp với mục đí ch vay tiề n mà ông Kiề ng Văn H và bà Hoàng Thị D khai. Như vậ y có đủ căn cứ xá c đị nh khoản nợ bà Hoàng Thị D là nợ chung vợ chồ ng nên chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H cùng phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Hoàng Thị D. Cụ thể: chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H mỗ i ngườ i có trá ch nhiệ m trả cho anh Kiề ng Nhậ t T 1,5 chỉ vàng 9999; trả cho bà Kiề ng Thị N 01 chỉ vàng 9999 và trả cho bà Hoàng Thị D 8.500.000đ. Anh Kiề ng Nhậ t T , bà Hoàng Thị D và bà Kiề ng Thị N không yêu cầ u trả lã i. Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.

Về chi phí đị nh giá tà i sả n : Do các đương sự không tự thỏa thuận được việc chia tài sản chung và có yêu cầu Tòa án định giá tài sản để phân chia. Trong trường hợp định giá để chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia. Tức phải chịu phần chi phí định giá theo tỷ lệ phần giá trị tài sản mà mình được hưởng. Tổng chi phí định giá là 2.900.000đ, chị Vũ Thị H đã tạm ứng thanh toán, nay anh Kiề ng Văn H phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị Vũ Thị H một nửa chi phí định giá là 1.450.000đ.

Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩ m, án phí dân sự có giá ngạch; anh Kiề ng Văn H phải chịu án phí cấp dưỡng và án phí dân sự có giá ngạch để sung ngân sá ch N hà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 24; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ cá c Điề u 33, 38, 56, khoản 1 Điề u 57, 58, 59, 81, 82, 83, 107, 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 213; 280; 357; 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2, 4 Điề u 147; khoản 2 Điề u 157; khoản 2 Điề u 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 24; điểm a, b khoản 5 Điều 27; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân : Xử chấ p nhậ n yêu cầ u củ a chị Vũ Thị H, cho chị Vũ Thị H đượ c ly hôn vớ i anh Kiề ng Văn H . (Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đăng ký kế t hôn ngày 04/8/2008).

2. Về con chung: Giao con chung là Kiề ng Minh H, sinh ngà y 15/7/2009 cho chị Vũ Thị H có trách nhiệ m trự c tiế p nuôi dưỡ ng , chăm só c, giáo dục đến khi chá u Hiế u đủ 18 tuổ i. Anh Kiề ng Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Vũ Thị H là 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu Kiề ng Minh H đủ 18 tuổ i. Cấ p dưỡ ng theo từ ng thá ng , thờ i gian cấ p dưỡ ng đượ c thự c hiệ n từ khi bản án, quyế t đị nh ly hôn có hiệ u lự c thi hà nh. Anh Kiề ng Văn H phải chịu lãi phát sinh trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy đị nh của pháp luật . Anh Kiề ng Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đượ c ngăn cả n.

3. Về tà i sả n chung:

Giao cho anh Kiề ng Văn H đượ c quản lý sở hữ u, sử dụng toàn bộ nhà, công trình, vậ t kiế n trúc trên đấ t tại thôn A, xã S, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn và mộ t số đồ vậ t trong nhà gồ m: 01 bế p ga; 01 chiế c điều hòa 2 chiều hiệ u DAIKIN; 01 bình nóng lạnh; trầ n nhà ốp gỗ ; gạch ốp chân tườ ng. Nhà, công trình, vậ t kiế n trúc đượ c xây trên thửa đất số 125 tờ bản đồ số 05 có diện tích 286 m2, đấ t là tài sản riêng của anh Kiề ng Văn H đã được UBND huyệ n Hữ u Lũng cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đấ t số AE338125 ngày 14/11/2016. Thử a đấ t có tứ cậ n tiế p giáp như sau: Phía Đông giá p đườ ng bê tông; phía Tây giáp đườ ng bê tông; phía Nam giá p đấ t ông Nguyễ n Xuân T ; phía Bắc giáp đấ t ông B và bà Đặ ng Thị S . (Có sơ họa thửa đất kèm theo).

Tổng giá trị tài sản anh Kiề ng Văn H đượ c nhậ n là 262.094.000đ.

Giao 01 tivi Sony 42 inh; 01 kệ để tivi bằ ng gỗ ; 01 chiế c tủ lạnh SHAPP; 01 bộ bàn ăn bằ ng gỗ ; 01 xe mô tô hiệ u HONDA – LEAD biể n kiể m soát 12H1 – 09099 cho chị Vũ Thị H đượ c quản lý, sở hữ u, sủ dụng. Tổ ng giá trị tài sản chị Vũ Thị H đượ c nhậ n là 49.000.000đ.

Anh Kiề ng Văn H có trách nhiệ m trả cho chị Vũ Thị H số tiề n 106.547.000đ là phầ n chênh lệ ch giá trị tài sản chị Vũ Thị H đượ c nhậ n.

4. Về nợ chung:

Chị Vũ Thị H và anh Kiề ng Văn H mỗ i ngườ i có trá ch nhiệ m trả cho anh Kiề ng Nhậ t T là 1,5 chỉ vàng 9999; trả cho bà Kiề ng Thị N 01 chỉ vàng 9999 và trả cho bà Hoàng Thị D 8.500.000đ.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

5. Về chi phí tiế n hà nh tố tụ ng và án phí:

Anh Kiề ng Văn H phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị Vũ Thị H ½ chi phí thẩ m đị nh , định giá tài sản là 1.450.000đ (mộ t triệ u bố n trăm năm mươi ngàn đồng).

Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 7.777.350đ (bẩ y triệ u bẩ y trăm bẩ y mươi bẩ y ngà n ba trăm năm mươi đồ ng) án phí dân sự có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước. Tổ ng số tiề n á n phí chị Vũ Thị H phải chịu là 8.077.350đ (tám triệu không trăm bẩy mươi bẩy ngàn ba trăm năm mươi đồng ) được trừ vào tổ ng số tiền 15.888.000đ tạm ứng án phí chị Vũ Thị H đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2015/0001025 và AA/2015/0001026 ngày 20/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi khấ u trừ , hoàn trả cho chị Vũ Thị H 7.810.650đ (bẩ y triệ u tá m trăm mườ i ngà n sá u trăm năm mươi đồ ng) tạm ứng án phí đã nộp.

Anh Kiềng Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấ p dưỡ ng và 7.777.350đ án phí có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước. Tổ ng số tiề n á n phí anh Kiề ng Văn H phải chịu là 8.077.350đ (tám triệu không trăm bẩy mươi bẩ y ngà n ba trăm năm mươi đồ ng).

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan bà Kiề ng Thị N có mặ t, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặ t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án xử vắng mặt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ