- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Ngọc C .
- Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A Tỉnh Hậu Giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2019/HNGĐ-ST Ngày: 19 – 4 – 2019. V/v: Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hoa Lài
2. Ông Nguyễn Hoàng Điểm
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Bình – kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2018/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 12 năm 2018 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX-ST, ngày 14 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Ngọc C ; địa chỉ cư trú: Ấp 4A, thị trấn Bảy Ng, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn P; Địa chỉ cư trú: Ấp 4A, thị trấn Bảy Ng, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Đặng Ngọc C trình bày: Bà và ông Hồ Văn P kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bảy Ngàn. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, nhưng đến nay phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, khiến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng sứt mẽ, không còn thương yêu nhau, không ai quan tâm đến ai nữa, hôn nhân không thể hàn gắn được, nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Văn Phấn.
Về con chung: Bà và ông Hồ Văn P có 02 con chung tên Hồ Quốc Khởi (nam) sinh ngày 11/3/1985 và Hồ Ngọc Vui (nữ) sinh ngày 02/10/1987 đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Hồ Văn Phấn: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hòa giải, công khai chứng và tham dự phiên tòa hợp lệ nhiều lần nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
- Tại phiên Tòa:
Nguyên đơn bà Đặng Ngọc C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Hồ Văn Phấn.
Bị đơn ông Hồ Văn P vắng mặt nên không có ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích của đương sự.
Về nội dung vụ án, về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Ngọc C và ông Hồ Văn P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bảy Ngàn vào năm 2010 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm, ông P không quan tâm chăm sóc vợ con, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm chăm sóc nhau, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không còn, cũng không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với ông Phấn, vợ chồng cũng đã sống ly thân khoảng một năm nay. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã động viên phân tích cho bà C hàn gắn quan hệ tình cảm vợ chồng với ông P nhưng bà C vẫn cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà C và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên khi bà C làm đơn xin ly hôn với ông P là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử xét căn cứ vào khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Đặng Ngoc C được ly hôn với ông Hồ Văn Phấn.
Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà C phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bà Đặng Ngọc C có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Văn Phấn, xét đây là vụ án Xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Quá trình tố tụng ông Hồ Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng của bà C ông P và công khai chứng cứ nhưng ông P vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Văn Phấn.
Xét yêu cầu khởi kiện của Đặng Ngọc C , Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Ngọc C và ông Hồ Văn P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bảy Ngàn vào năm 2010 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm, ông P không quan tâm chăm sóc vợ con, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm chăm sóc nhau, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, bà C cũng không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với ông Phấn, vợ chồng cũng đã sống ly thân khoảng một năm nay, nay bà nhận thấy hôn nhân giữa bà và ông P không hạnh phúc, bà không còn tình cảm với ông P nên yêu cầu được ly hôn với ông Phấn. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã động viên phân tích cho bà C hàn gắn quan hệ tình cảm vợ chồng với ông P nhưng bà C vẫn cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà C và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên khi bà C làm đơn xin ly hôn với ông P là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử xét căn cứ vào khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Đặng Ngoc C được ly hôn với ông Hồ Văn Phấn.
Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đặng Ngọc C phải chịu 300.000 đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Ngọc C .
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Đặng Ngọc C được ly hôn với ông Hồ Văn Phấn.
2. Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Ngọc C phải chịu 300.000đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0018594 ngày 13/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bà Đặng Ngọc C được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 19/4/2019. Ông Hồ Văn P được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bảy Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nguyễn Hoa Lài – Nguyễn Hoàng Điểm | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hường |