vanban.org

Bản án 14/2019/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn L.

Buộc anh Lê Thành L hoàn trả cho ông Lê Văn L tiền thức ăn gia súc là 125.275.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Hợp đồng mua bán thức ăn gia súc"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 429 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 14/2019/BADS-ST
Ngày: 04/6 /2019
V/v “tranh chấp hợp đồng mua
bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vy Quốc Thanh

2. Ông Lê Văn Xiêm

- Thư ký phiên tòa: bà Ngô Thị Thu Thảo -

Ngày 04 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXX-ST ngày 19/4/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lê Văn L, sinh năm 1969

Trú tại: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh B.

2. Bị đơn: Lê Thành L, sinh năm 1977.

Trú tại: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2019, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn L trình bày: Từ năm 2015 ông Lê Văn L có hợp đồng mua bán thức ăn gia súc với anh L. Hình thức mua bán ông Liêm giao thức ăn cho anh L đến khi ra chuồng thì anh L thanh toán tiền cho ông L tương ứng với số lượng heo đã bán. Thời gian lứa heo là 4 tháng đến 5 tháng.

Đến năm 2017 thì ông L, anh L chấm dứt hợp đồng mua bán thức ăn do anh L còn thiếu tiền hai bên có kết nợ là 125.275.000 đồng, ông L có yêu cầu anh L thanh toán cho ông L nhưng anh L không thanh toán. Nay ông L yêu cầu anh L trả tiền thức ăn gia súc cho ông L là 125.275.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Lê Thành L trình bày: anh Lê Thành L có chăn nuôi heo nhưng do thua lỗ nên còn thiếu tiền thức ăn của anh L. Anh L thừa nhận còn nợ ông L 125.275.000 đồng. Do gia đình khó khă chăn nuôi thu lỗ hiện tại thu nhập chính của gia đình là dựa vào anh L làm thuê tháng khoảng 4.500.000 đồng. Do còn nuôi cha mẹ nên anh Lê Thành L xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, bị đơn phát biểu tranh luật Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Lê Văn L yêu cầu anh Lê Thành L liên đới hoàn trả tiền thức ăn gia súc cho ông L là 125.275.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Căn cứ vào điều 430 Bộ luật dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Hợp đồng mua bán”.

Thẩm quyền xét xử: Theo xác nhận ngày 21/3/2019 của Công an xã H xác nhận anh Lê Thành L có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xã H, huyện M, tỉnh B. Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 33, điểm a, khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Thời hiệu khởi kiện: Ông Lê Văn L và anh Lê Thành L thống nhất thời điểm dừng giao dịch mua bán ngày 17/3/2017 đến ngày 21/3/2019 ông L khởi kiện tại tòa án. Căn cứ vào điều 429 Bộ luật tố tụng dân sự thì còn trong thời hiệu khởi kiện.

Nội dung vụ án:

Ông Lê Văn L yêu cầu anh Lê Thành L hoàn trả tiền thức ăn gia súc cho anh L là 125.275.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Anh Lê Thành cũng thừa nhập hợp đồng mua bán thức ăn gia súc với ông L và còn nợ số tiền thức ăn gia sức của ông L là 125.275.000 đồng. Nhưng do hoàn cảnh khó khăn anh Lê Thành L xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng mua bán thức ăn gia súc giữa ông Lê Văn L và anh Lê Thành L được thực hiện từ thỏa thuận tự nguyện của bên mua và bên bán. Thỏa thuận bên bán giao thức ăn gia súc còn bên mua thanh toán tiền khi lứa heo ra chuồng. Bên bán ông Lê Văn L thực hiện đúng nghĩa vụ còn bên mua anh Lê Thành L thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán tiền. Như vậy trong hợp đồng mua bán thức ăn gia súc anh Lê Thành L đã vi phạm hợp đồng. Tại tòa ông L không đồng ý cho anh L trả dần. Do anh Lê Thành L vi phạm hợp đồng nên ông Lên Văn L yêu cầu là có căn cứ để chấp nhận.

Anh Lê Thành L là người có lỗi nên phải chịu án phí dân sự giá ngạch 5% là 125.275.000 đồng x 5% = 6.263.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 430, 440 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn L.

Buộc anh Lê Thành L hoàn trả cho ông Lê Văn L tiền thức ăn gia súc là 125.275.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Án phí dân sự giá ngạch sơ thẩm: Anh Lê Thành L phải nộp là 6.263.000 đồng.

Hoàn trả tạm ứng án phí cho ông Lê Văn L là 3.132.000 đồng tại biên lai thu số 000541 ngày 21/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

3. Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ