- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "nguyên đơn ông Võ Văn T khởi kiện đối với bị đơn ông Đoàn Ngọc C yêu cầu trả số tiền 600.000.000đồng."
- Tòa quyết gì? * Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T đối với bị đơn ông Đoàn Ngọc C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2019/DS - ST Ngày: 15- 7- 2020 V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thy Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Bách Tùng.
2. Ông Hà Đồng Tịnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Thư ký Tòa án của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thu.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2020/TLST- DS ngày 21 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2020/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, Sinh năm: 1989.
Nơi cư trú: Tổ 01 phường P, quận S, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Đoàn Ngọc C, Sinh năm: 1975.
Nơi cư trú: Số 101/43 Đường V, Tổ 101 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa ông Võ Văn T trình bày:
Vào ngày 02/01/2019, ông Võ Văn T có cho ông Đoàn Ngọc C mượn số tiền 860.000.000 đồng, không có lãi suất, thời hạn mượn trong vòng ba tháng ông C sẽ hoàn trả lại số tiền trên cho ông T. Mục đích ông C mượn tiền ông để sử dụng với gia đình. Khi mượn tiền để làm tin ông C có giao cho ông một giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên ông Đoàn Ngọc C, bà Phùng Thị H do Sở địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/02/2003, 01 Quyết định số 19847/QĐ- ĐCNĐ ngày 25/02/2003 của Sở Địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng về việc cấp giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 01 chứng minh nhân dân mang tên ông Đoàn Ngọc C, 01 sổ hộ khẩu đứng tên bà Huỳnh Thị T (Tất cả đều là bản chính). Đến hạn trả nợ ông T đã nhiều lần yêu cầu ông C trả nợ nhưng ông C mới trả được 200.000.000đồng rồi không trả nữa. Từ tháng 7/2019 đến nay ông T đã nhiều lần liên lạc với ông C nhưng ông C cố tình trốn tránh, không trả nợ.
Nay ông Võ Văn T yêu cầu ông Đoàn Ngọc C trả cho ông số tiền là 660.000.000 đồng, ông T không yêu cầu tính lãi.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án ông Võ Văn T đã nộp cho Tòa án và có trách nhiệm sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ cho bị đơn ông Đoàn Ngọc C đầy đủ.
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Đoàn Ngọc C đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản nhưng ông Đoàn Ngọc C không đến Tòa án nên không ghi được lời trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều Điều 463, 465, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T đối với bị đơn ông Đoàn Ngọc C.
Đề nghị HĐXX buộc ông Đoàn Ngọc C phải trả cho ông Võ Văn T số tiền 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng), không tính lãi.
Ông Võ Văn T có trách nhiệm trả cho ông Đoàn Ngọc C 01 giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên ông Đoàn Ngọc C, bà Phùng Thị H do Sở địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/02/2003, 01 Quyết định số 19847/QĐ- ĐCNĐ ngày 25/02/2003 của Sở Địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng về việc cấp giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 01 chứng minh nhân dân mang tên ông Đoàn Ngọc C, 01 sổ hộ khẩu đứng tên bà Huỳnh Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Trước khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện thì bị đơn đang cư trú tại số 101/43 Đường V, Tổ 101 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Đoàn Ngọc C nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Đoàn Ngọc C vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét vử vắng mặt bị đơn ông Đoàn Ngọc C.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 660.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Bị đơn vắng mặt tai phiên tòa nên không có ý kiến trình bày trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào ngày 02/01/2019, nguyên đơn có cho bị đơn mượn số tiền 860.000.000 đồng, không có lãi suất, thời hạn mượn trong vòng ba tháng bị đơn sẽ hoàn trả lại số tiền trên cho nguyên đơn. Mục đích bị đơn mượn tiền nguyên đơn để sử dụng với gia đình. Khi mượn tiền để làm tin bị đơn có giao cho nguyên đơn một giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên ông Đoàn Ngọc C, bà Phùng Thị H do Sở địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/02/2003, 01 Quyết định số 19847/QĐ- ĐCNĐ ngày 25/02/2003 của Sở Địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng về việc cấp giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 01 chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Ngọc C, 01 sổ hộ khẩu đứng tên bà Huỳnh Thị T. Đến hạn trả nợ nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả nợ nhưng bị đơn mới trả được 200.000.000đồng rồi không trả nữa. Từ tháng 7/2019 đến nay nguyên đơn đã nhiều lần liên lạc với bị đơn nhưng bị đơn cố tình trốn tránh, không trả nợ. Hội đồng xét xử thấy rằng giao dịch dân sự về vay, mượn tiền giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, trong quá trình vay, mượn tiền bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã ký kết trong giấy mượn tiền. Việc khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả số tiền còn nợ 660.000.000đồng là phù hợp với các Điều 463, 465, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận. Đồng thời nguyên đơn phải có nghĩa vụ trả lại một giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên ông Đoàn Ngọc C, bà Phùng Thị H do Sở địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/02/2003, 01 Quyết định số 19847/QĐ- ĐCNĐ ngày 25/02/2003 của Sở Địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng về việc cấp giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 01 chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Ngọc C, 01 sổ hộ khẩu đứng tên bà Huỳnh Thị T cho bị đơn ông Đoàn Ngọc C (Tất cả đều là bản chính).
Về lãi suất: Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên HĐXX không đề cập đến.
Án phí dân sự sơ thẩm: 30.400.000đồng bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn 15.200.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 008425 ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng thấy phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, 465, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T đối với bị đơn ông Đoàn Ngọc C.
Tuyên xử:
Buộc ông Đoàn Ngọc C phải trả cho ông Võ Văn T số tiền 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng).
Ông Võ Văn T phải có trách nhiệm trả cho ông Đoàn Ngọc C một giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên ông Đoàn Ngọc C, bà Phùng Thị H do Sở địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/02/2003, 01 Quyết định số 19847/QĐ- ĐCNĐ ngày 25/02/2003 của Sở Địa chính nhà đất thành phố Đà Nẵng về việc cấp giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 01 chứng minh nhân dân mang tên ông Đoàn Ngọc C, 01 sổ hộ khẩu đứng tên bà Huỳnh Thị T (Tất cả đều là bản chính).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm: 30.400.000đồng bị đơn ông Đoàn Ngọc C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn ông Võ Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Võ Văn T số tiền 15.200.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 008425 ngày 21 tháng 02 năm 2020.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - VKSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Thy Tuyết |