vanban.org

Bản án 14/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuy n bố: bị cáo Nguyễn Văn phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ”.

p d ng: Điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn (15) mười lăm tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuy n bố: bị cáo Nguyễn Văn phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH B NH THUẬN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/HS-ST
Ngày: 06/03/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH B NH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trọng Di

Bà Nguyễn Thị Bích Lam

- Thư ký phiên tòa: Ông Thanh

nh Tu n, Thư ký T a án nhân dân huy n Tuy hong

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 03 năm 2018 tại Tr s T a án nhân dân huy n Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 05/2018/HSST, ngày 22/01/2018 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn A, Sinh ngày: 12.12.1997 tại: tỉnh Z; nơi cư trú: Thôn Z1, xã Z2, huy n Z3, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghi p: Làm biển; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Hà Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo đang áp d ng bi n pháp c m đi khỏi nơi cư trú, hi n đang tại ngoại Thôn Z1, xã Z2, huy n Z3, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.

- Bị hại: Phạm Hồng D; sinh năm 1993

Nơi ĐKNKTT và ch : Khu phố 14, thị tr n Q, huy n W, tỉnh Bình Thuận (đã chết)

- Đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Huỳnh Văn E, sinh năm 1959. Vắng mặt

2. Bà Phạm Thị F, sinh 1964. Có mặt

Cùng trú tại: Khu phố 14, thị tr n Q, huy n W, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hà Thị C, sinh 1970

Nơi ĐKNKTT và ch : Thôn Z1, xã Z2, huy n Z3, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt

- Người làm chứng:

1. Huỳnh Văn G, sinh năm 1981

Nơi ĐKNKTT và ch : Khu phố 13, thị tr n Q, huy n , tỉnh Bình Thuận Vắng mặt

2. Văn H, sinh năm 1989

Nơi ĐKNKTT và ch : Khu phố 14, thị tr n Q, huy n , tỉnh Bình Thuận Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ v án nội dung v án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn , sinh ngày 12.12.1997, trú tại thôn Z, xã Z1, huy n Z2, tỉnh Ninh Thuận không có gi y phép lái xe. Khoảng 19 giờ ngày 22.6.2017 sau khi uống rượu, bia A tự ý l y xe mô tô biển số 85E1 - 01474 của anh ruột là Nguyễn Văn Icó dung tích xi lanh 110cm3 điều khiển ch hạm Hồng D ngồi phía sau chạy tr n đường quốc lộ 1 hướng từ thôn Z, xã Z1, huy n Z2, tỉnh Ninh Thuận về thị tr n Q, huy n , tỉnh Bình Thuận. Khi A điều khiển xe mô tô đến gần km 1595 + 400m Q 1 thuộc thôn K3, xã K, huy n là đoạn đường đang thi công phần đường b n phải có rào chắn ngăn đường bằng b tông cứng, xung quanh rào chắn có nhiều cột ti u, có nhiều đèn xoay màu đỏ báo hi u nguy hiểm gắn tr n rào chắn, tr n rào chắn có biển báo chỉ dẫn hướng đi sang phần đường b n trái Do A điều khiển xe mô tô chạy tốc độ khoảng 60km/h, thiếu chú ý quan sát phía trước khi xe mô tô còn cách rào chắn khoảng 5m thì A mới phát hi n rào chắn ngăn đường bằng bê tông nên phanh xe và đánh tay lái sang trái để lách tránh nhưng không kịp, phần đầu xe mô tô biển số 85E1-01474 tông vào rào chắn ngăn đường làm A và D té ngã xuống đường nhựa, A bị xây xát nhẹ c n D bị thương tích nặng được người dân đưa đến b nh vi n tỉnh Ninh Thuận c p cứu thì tử vong

Tại bản Cáo trạng số 06/CT/VKST -HS ngày 19/01/2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999

Tại phi n t a sơ thẩm:

- kiến của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy hong vẫn giữ nguy n quyết định truy tố theo Cáo trạng số 06/CT/VKSTP-HS ngày 19/01/2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy hong

Đề nghị nghị Hội đồng t :

Tuy n bố bị cáo Nguyễn Văn phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999

p d ng: Điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù

- Bị cáo Nguyễn Văn không trình bày lời bào chữa cho mình, không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát vi n đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội khi điều khiển xe mô tô gây tai nạn làm anh D tử vong. Bị cáo khẳng định Cáo trạng số 06/CT/VKSTP-HS ngày 19/01/2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy Phong truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- kiến của người đại di n hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị F xác định đã nhận 20 000 000 đồng tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm và xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài li u đã được thẩm tra tại phi n t a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n t a tr n cơ s xem xét đầy đủ, toàn di n chứng cứ, ý kiến của Vi n kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Vi n kiểm sát nhân dân dân huy n Tuy hong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự Quá trình điều tra c ng như tại phi n t a, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hi n đều đúng quy định pháp luật

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 62/PY-PC54 ngày 17/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; Biên bản khám nghi m hi n trường v tai nạn giao thông và sơ đồ hi n trường v tai nạn giao thông ngày 22/6/2017 của Công an huy n W xác định v tai nạn giao thông xảy ra tại Km1545+400m, QL1A thuộc K3, xã K, W, Bình Thuận như sau:

Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường nằm trong khu vực thưa dân cư sinh sống, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có giải phân cách cố định giữa tim đường để phân chia hai d ng phương ti n chạy ngược chiều nhau, hai đầu dải phân cách có biển báo c m đi ngược chiều, biển chỉ dẫn hướng phải đi Hướng đi Z5– Z6 có dải phân cách bằng b tông chắn ngang đường không cho phương ti n lưu thông, có đèn ưu ti n cảnh báo nguy hiểm, biển chỉ dẫn hướng đi sang phần đường b n trái Theo hướng Z6– Z5 giữa có dãy cọc ti u phân chia hai làn đường cho phương ti n đi ngược chiều nhau Hướng đi Z5– Z6 mặt đường rộng 4,40m, hướng Z6– Z5 mặt đường rộng 3,10m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,00m.

Chọn chiều theo hướng Z6– Z5, chọn mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ làm mép đường chuẩn, chọn tr biển Công ty TNHH H VICO HT được xây dựng b n trong mép đường b n phải làm điểm chuẩn của hi n trường, đo đạt các d u vết để lại tr n hi n trường, c thể như sau:

Xe mô tô 85E1 – 01474 ngã sang trái, đầu xe quay về hướng Z5, tr c bánh xe trước nằm trên mặt đường đ t bên phải cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 0,80m, cách tr biển báo Công ty TNHH HAVICO HT là 44,40m. Tr c bánh xe sau nằm trên mặt đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 0,05m, cách tr biển báo Công ty TNHH HAVICO HT là 45,20m.

Vết máu nằm tr n làn đường hướng Z6- Z5 có kích thước 0,60m x 0,40m, tâm d u vết máu cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 4,50m, cách tr c bánh trước xe 85E1 - 01474 là 16,50m, cách tr c bánh sau xe 85E1 – 01474 là 15,50m.

Vết cày nằm tr n làn đường hướng Z5- Z6 dài 0,30m, đầu vết cày cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 2,15m, cách tr c bánh trước xe 85E1 - 01474 là 3,10m, cách tr c bánh sau xe 85E1 - 01474 là 2m, cuối vết cày cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 1,93m.

Trên mặt hông phía trước c c bê tông dải phân cách thứ nh t dùng làm rào chắn ngăn đường (tính theo hướng từ trong ra ngoài theo hướng Z5- Z6) có vết trày xướt bể phần đầu cạnh kích thước 1,70m x 0,70m dính các vết màu đen, đỏ hồng, tâm vết trầy xướt cách mặt đường nhựa là 0,40m. Trên c c dải phân cách có gắn đèn ưu tiên màu đỏ nhưng đã bị bể vỡ ch p đèn, đèn ưu ti n đặt cách mặt đường là 1m và cách đầu dải phân cách là 1m Đuôi vết trầy xướt cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 9,70m, cách đầu vết cày là 8,40m, đầu vết trầy xướt cách đầu vết cày là 9,05m.

D u vết phanh có chiều dài 2,80m nằm trên mặt đường hướng Z5- Z6 (phần đường sắp đến dải b tông ngăn đường), đầu d u vết phanh cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 12m, đuôi d u vết phanh cách mép đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ là 11,70m và cách dải phân cách chắn ngang đường là 2,60m.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 62/PY-PC54 ngày 17.7.2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Hồng D: Shock ch n thương không hồi ph c do ch n thương sọ não: Nứt xương sọ đỉnh chẩm phải. Xu t huyết não.

Tại bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 43/BVAP-KXN ngày 12/7/2017 của B nh vi n đa khoa n hước - S y tế Bình Thuận kết luận Phạm Hồng D có nồng độ cồn (Ethanol) trong mẫu máu là 86,73mg/100mL (18.82mmol/L).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 06/CT/VKSTP-HS ngày 19/01/2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy hong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguy n, đúng sự thật, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.

Như vậy, có đủ cơ s kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 22.06.2017 tại Km 1595 + 400m Quốc lộ 1A thuộc thôn K3, xã K, W, Bình Thuận. Nguyễn Văn đã trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 85E1 – 01474 không có gi y phép lái xe và do thiếu chú ý quan sát nên xe mô tô biển số 85E1-01474 tông vào rào chắn ngăn đường làm dẫn đến D tử vong.

Do đó, Cáo trạng số 06/CT/VKSTP-HS ngày 19/01/2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy hong truy tố bị cáo Nguyễn Văn về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật

Về tính ch t, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn là công dân có đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự, bị cáo không có gi y phép lái xe mô tô nhưng sau khi sử d ng rượu bia lại điều khiển xe mô tô và thiếu chú ý quan sát khiến xe mô tô biển số 85E1-01474 tông vào rào chắn ngăn đường làm anh D tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo là l i vô ý do cẩu thả dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thi t hại tính mạng của người khác. Với tính ch t, mức độ hành vi của bị cáo xét th y cần phải tuyên phạt cho bị cáo mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo d c và phòng ngừa tội phạm chung.

4 Về các tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự Trong quá trình điều tra và tại phi n t a hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguy n bồi thường thi t hại cho gia đình nạn nhân và được gia đình nạn nhân bãi nại Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hi n tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự nên được áp d ng Điều 47 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức th p nh t của khung hình phạt.

Về ý kiến của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy hong:

Tại phi n t a đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tuy hong giữ nguy n quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng: Điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. kiến của đại di n Vi n kiểm sát về vi c áp d ng pháp luật, mức hình phạt là tương xứng với tính ch t, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại mô tô biển số 85E1 – 014 74 cho chủ s hữu là Nguyễn Văn I là đúng quy định pháp luật

7 Về trách nhi m bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo đã tự nguy n bồi thường cho gia đình bị hại 20 000 000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuy n bố: bị cáo Nguyễn Văn phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao thông đường bộ”.

p d ng: Điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn (15) mười lăm tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án

[2] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy đinh tại Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí và l phí Tòa án

[3] Về quyền kháng cáo: n xử công khai có mặt bị cáo, người đại di n hợp pháp cho bị hại báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án. Đại di n hợp pháp cho người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ