- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng X phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH –––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/HS-ST Ngày: 27/4/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Diễm Chi;
Ông Ngô Văn Nghị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng X, sinh năm 1993 tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T và bà Lương Thị Minh N; vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bị hại: Bùi Thị V, sinh năm 1941(Đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1934 - Chồng của bị hại (Có mặt);
Trú tại: thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Nguyễn T, sinh năm 1970 (Có mặt);
+ Lương Thị Minh N, sinh năm 1975 (Có mặt);
Đồng trú tại: thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Ngƣời làm chứng:
+ NLC1, sinh năm 1984 (Vắng mặt);
+ NLC2, sinh năm 1962 (Có mặt);
+ NLC3, sinh năm 1965 (Có mặt);
Đồng trú tại: thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/9/2017, Nguyễn Trọng X (Có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe môtô mang BKS 77E1 – 315.18 đi theo Quốc lộ 19 từ thị xã A, tỉnh Gia Lai về huyện P, tỉnh Bình Định (Từ Tây sang Đông). Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn Quốc lộ 19 thuộc xóm 8, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, X điều khiển xe môtô đi với vận tốc khoảng 50km/h trên phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Lúc này X có cảm giác ống quần của mình bị vướng vào chân thắng của xe môtô nên cúi xuống nhìn. Khoảng 02 giây sau, X ngước mặt lên thì thấy phía trước cách khoảng 04m, ở làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ có bà Bùi Thị V ở thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định đang đi bộ cùng chiều. Thấy vậy, X xử lý né tránh qua bên trái theo chiều đi của mình nhưng đã va tông vào bên trái phía sau người bà V, làm bà V ngã xuống đường và chết khi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 24/9/2017 tại thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (BL: 14, 15), thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn tại đoạn đường trải nhựa thẳng, phẳng, rộng 13,2m, có vạch kẻ đường màu trắng không liên tục rộng 0,1m ở giữa chia mặt lòng đường thành hai làn đường. Phần đường phía bắc có vạch kẻ đường liên tục màu trắng rộng 0,2m, chia phần đường thành hai làn đường, làn đường giáp bó vỉa rộng 2,6m, làn đường liền kề rộng 3,8m. Phần đường phía nam có vạch kẻ đường liên tục màu trắng rộng 0,2m, chia phần đường thành hai làn đường, làn đường giáp bó vỉa (rãnh thoát nước) rộng 2,9m, làn đường liền kề phía trong rộng 3,4m.
Trên mặt đường xảy ra tai nạn phát hiện:
- Trên vạch kẻ đường liên tục màu trắng của phần đường nam có vết in hằn màu đen (nghi của lốp xe mô tô) còn mới, hướng từ tây sang đông dài 1,3m. Điểm đầu vết này cách mép lòng đường nam là 2,85m, cách mép nam vạch kẻ đường liên tục là 0,03m về hướng bắc. Điểm cuối vết này cách mép lòng đường nam là 2,89m, cách mép nam vạch kẻ đường liên tục là 0,07m về phía bắc. Nơi rộng nhất vết in hằn là 0,07m, nơi hẹp nhất là 0,03m.
- Trên vết in hằn mô tả trên có 03 vết màu đỏ thẫm (nghi máu) có dạng lấm chấm, còn mới, kích thước mỗi vết là (0,05 x 0,05)m, nằm trên một đoạn đường thẳng, vết đầu và vết cuối cách nhau 0,25m. Vết đầu phía tây cách điểm đầu vết in hằn là 0,98m về phía đông, cách mép phía nam vạch kẻ đường liên tục là 0,09m.
- Cách điểm cuối vết in hằn về phía đông nam 2,27m là tâm vùng chất màu đỏ thẫm (nghi máu) có kích thước (0,15 x 0,15)m. Tâm vùng này cách mép phía nam lòng đường là 1,06m, cách mép phía nam vạch kẻ đường liên tục là 1,17m về phía nam, cách điểm đầu vết in hằn màu đen là 3,34m về phía đông nam.
- Cách tâm vùng chất màu đỏ thẫm 2,35m về phía đông bắc là điểm đầu vết cày không liên tục, còn mới, hướng từ tây bắc đến đông nam. Điểm đầu vết cày này cách mép phía nam vạch kẻ đường không liên tục màu trắng là 0,06m về phía nam, cách mép lòng đường nam 2,8m về phía bắc, cách điểm cuối vết in hằn màu đen là 3,03m về phía đông bắc. Điểm cuối kết thúc tại lốc máy xe mô tô biển số 77E1-315.18 ngã sau khi tai nạn, kí hiệu V1 trong sơ đồ.
- Sau tai nạn, ngã nằm trên phần đường nam, đầu xe quay hướng tây nam, đuôi xe quay hướng đông bắc, yên và ghi đông xe quay hướng đông nam. Trục bánh sau xe mô tô cách mép lòng đường nam là 2,67m, trục bánh trước xe mô tô cách mép lòng đường nam là 2,17m, cách điểm đầu vết cày không liên tục mô tả ở trên là 6m.
- Cách điểm đầu vết cày thứ nhất (V1) về phía đông bắc 1,7m là điểm đầu vết cày không liên tục thứ hai (V2), còn mới hướng từ tây sang đông, dài 3,1m. Điểm đầu vết cày này cách mép phía nam vạch kẻ đường liên tục màu trắng là 0,38m về phía bắc, cách mép nam lòng đường là 3,32m. Điểm cuối vết cày cách mép phía nam vạch kẻ đường liên tục màu trắng là 0,32m về phía bắc, cách mép lòng đường nam là 3,24m.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 304/PY-TT ngày 11/10/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Nạn nhân Bùi Thị V chết do: “Chấn thương sọ não vỡ sọ, chảy máu nội sọ chèn ép não”. (BL: 22).
Vật chứng thu được trong vụ án: 01 xe môtô BKS 77E1 – 315.18 của bị cáo Nguyễn Trọng X và đã trả lại cho bị cáo X.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Trọng X đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình nạn nhân Bùi Thị V với số tiền: 40.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 09/CT – VKSTS ngày 11/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng X về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Nguyễn Trọng X được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng X mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp gia đình bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/9/2017, bị cáo Nguyễn Trọng X (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô gắn BKS 77E1 – 315.18, tham gia giao thông từ thị xã A, tỉnh Gia Lai về nhà tại huyện P, tỉnh Bình Định (Từ Tây sang Đông). Khi đến đoạn đường Quốc lộ 19 thuộc thôn H, xã B, huyện T, bị cáo điều khiển xe chạy phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ tông vào bà Bùi Thị V đang đi bộ cùng chiều làm bà V ngã chấn thương sọ não và chết. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được đào tạo kỷ năng lái xe hạng A1, lẽ ra bị cáo phải có ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo có hành vi điều khiển xe chạy phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ đồng thời không chú ý quan sát, là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông làm bà Bùi Thị V chết. Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý lo lắng cho những người tham gia giao thông.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã khắc phục, bồi thường xong cho gia đình nạn nhân. Đại diện gia đình người bị hại tại phiên tòa tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo, xin cho bị cáo hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; để tạo điều kiện các bị cáo tự cải tạo, có điều kiện làm ăn sinh sống và xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Nguyễn Trọng X phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng X phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
* Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng X 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Trọng X cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Nơi bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Trọng X thay đổi nơi cư trú thì cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, miễn xét.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Trọng X chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn; - Cơ quan THAHS Công an huyện Tây Sơn; - Chi cục THADS huyện Tây Sơn; - Bi cáo; bị hại; - Đương sự vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Tân |