- Tranh chấp gì? án hình sự — "Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 14/2018/HS-ST |
HUYỆN KRÔNG PA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày 29 - 3 – 2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Pep. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ksor Djơn 2. Bà Phan Thị Mỹ Lệ - Thư ký phiên toà: Ông Đinh Hải Biển – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lã Đại Thịnh - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2018/TLST –HS ngày 31 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo: -Rô Y, sinh năm 1994,tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai;Nơi cư trú:Buôn Uar, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp:làm nông;trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor V và bà Rô H’M; vợ ; chị Ksor H’Y, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con sinh năm 2016; tiền án: Tại bản án số 04/2016/HSST, ngày 25/01/2016,bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự : không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2017 đến ngày 26/10/2017 chuyển sang tạm giam và giam liên tục cho đến nay và có mặt tại phiên tòa. -Ksor Kh, sinh năm 1998 tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn Uar, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor H và bà Ksor H’Đ; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/12/2017 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa. -R’Ô L, sinh năm 1985 tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn Nung, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ
văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nay D và bà R’Ô H’B; vợ ; chị Kpă H’Nh, sinh năm 1984; bị cáo có 03 con lớn nhất sinh năm 2005,nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/3/2018 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa. -Người bào chữa cho các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L: Bà Ngô Thị V – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai.Có mặt -Người bị hại: Anh Nay R, sinh năm 1982; Trú tại: Buôn Uar, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: + Bà Rô H’M, sinh năm 1975; Trú tại: Buôn Uar, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt + Ông Ksor H, sinh năm 1977; Trú tại: Buôn Uar, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt - Người phiên dịch tiếng Jrai: Anh Nay Dăm Tr, sinh năm 1986 Địa chỉ: Tổ dân phố 12, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/10/2017, Rô Y và R’Ô L sau khi nhậu xong ở nhà Ksor Kh tại buôn Uar, xã Chư Drăng. Kho rủ Y và L đi tìm xe mô tô để trộm cắp, Y và L đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày cả bọn đi bộ đến nhà anh Nay R trú cùng buôn (cách nhà của Kh khoảng 50 mét), phát hiện chiếc xe mô tô loại Yamaha- Sirius, màu đen-trắng, biển kiểm soát 81N1-063.72 của anh Nay R đang dựng dưới gầm nhà sàn. Y và Kh phá hàng rào kẽm gai phía bên hông trái nhà anh R rồi Y vào dắt xe ra, Kh phụ đẩy xe, L đứng ngoài đường cảnh giới. Khi cả ba người dắt xe đi đến khu vực nhà mả buôn Uar, Y dùng tay bẻ gãy mặt nạ, bẻ gãy vứt lại bửng xe, bẻ biển số xe đưa cho L cầm, Kh tháo dây điện từ ổ khóa điện. Y đạp xe nổ máy chở L, Kh đi đến gần buôn Nung, xã Chư Drăng thì bị ngã, làm hư hỏng một số bộ phận của xe. L vứt biển số xe tại đây, Kh lái xe chở Y và L đi đến buôn ngôl, xã Uar thì dừng lại dùng tay giật phá khóa yên xe đến cây xăng gần đó đổ xăng. Sau đó, Kh tiếp tục chở Y và L đến nhà chị Ksor H’U ở buôn H’Lang, xã Chư Rcăm chơi. Tại đây, Y đi mua 20.000 đồng rượu trắng, cả bọn cùng uống với ông Rah Lan Dr (là bố của H’U) và ngủ tại đây. Sáng ngày 19/10/2017, cả Rô Y cùng Kh và L tiếp tục uống rượu và nằm ngủ tại nhà ông Rah Lan Dr. Sau khi phát hiện bị mất xe mô tô, anh Nay R cùng người thân đi tìm xe, khi đến buôn H’Lang, xã Chư Rcăm, huyện Krông Pa thì anh R nhìn thấy chiếc xe mô tô của mình bị mất dựng dưới nhà sàn của ông Rah Lan Dr, anh R vào xem thì thấy xe mô tô đã bị tháo biển số, mặt nạ yếm ngắn hai bên bị mất, đèn stop phía sau bị vỡ, anh R đến hỏi H’U và nói đây là xe mô tô của anh bị mất nên xin lấy xe về. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi ngủ dậy nghe U nói chủ xe đã đến lấy xe về, Kh và L sợ bị bắt nên bỏ trốn, còn Y do say rượu nên tiếp tục ngủ tại nhà U. Đến 14 giờ cùng ngày thì Công an xã Ia Rsươm mời Y về trụ sở làm việc.
Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐG ngày 24/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Pa: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen-trắng, biển kiểm soát 81N1-063.72; Số máy: 5C6K- 134772; Số khung: DY134750 có giá là 6.500.000 đồng. Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐG ngày 10/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Pa: Các chi phí thay thế và sữa chữa thiết bị của xe Yamaha-Sirius là: + 01 bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai có giá 250.000 đồng; + Mặt nạ, yếm cụt (phần dưới) 2 bên có giá là 150.000 đồng; + Nhựa đèn stop và bóng tín hiệu 2 bên có giá là 400.000 đồng; + Chi phí làm lại biển số là 350.000 đồng; + Khóa xe, chỉnh lệch tay trái có giá 300.000 đồng; + Tiền công 200.000 đồng.Tổng cộng là 1.650.000 đồng Tổng giá trị tài sản bị xâm phạm là 8.150.000 đồng Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên. Tại bản cáo trạng số 10/CT - VKS ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Ksor Kh từ 09 tháng đến 12 tháng tù, xử phạt bị cáo R’ô L từ 06 tháng đến 08 tháng; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Rô Y từ 09 tháng đến 12 tháng tù, ngoài ra các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Ksor Kh 08 tháng tù, xử phạt bị cáo Rô Y 07 tháng tù, xử phạt bị cáo R’ô L 04 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: [1] Lần phạm tội của bị cáo: Sau khi nhậu tại nhà bị cáo Ksor Kh xong thì bị cáo Kh rủ bị cáo Rô Y và R’Ô L đi tìm xe mô tô để trộm cắp thì được bị cáo Y và Lơn đồng ý. Sau đó các bị cáo đi bộ đến nhà anh Nay R thì thấy chiếc xe mô tô loại Yamaha- Sirius, màu đen-trắng, biển kiểm soát 81N1-063.72 của anh Nay R đang
dựng dưới gầm nhà sàn, bị cáo Y và Kh phá hàng rào kẽm gai phía bên hông trái nhà anh R rồi bị cáo Y vào dắt xe ra, bị cáo Kh phụ đẩy xe, còn bị cáo L đứng ngoài đường cảnh giới. Sau đó các bị cáo dắt xe đi đến khu vực nhà mả buôn Uar, thì bị cáo Y dùng tay bẻ gãy mặt nạ, bẻ gãy vứt lại bửng xe, bẻ biển số xe đưa cho bị cáo L cầm, bị cáo Kh tháo dây điện từ ổ khóa điện. Bị cáo Y đạp xe nổ máy chở bị cáo L và Kh đi đến gần buôn Nung, xã Chư Drăng thì bị ngã, làm hư hỏng một số bộ phận của xe. Bị cáo L vứt biển số xe tại đây, bị cáo Kh lái xe chở bị cáo Y và L đi đến buôn ngôl, xã Uar thì dừng lại dùng tay giật phá khóa yên xe đến cây xăng gần đó đổ xăng. Sau đó, bị cáo Kh tiếp tục chở bị cáo Y và L đến nhà chị Ksor H’U ở buôn H’Lang, xã Chư Rcăm chơi. Tại đây, bị cáo Y đi mua 20.000 đồng rượu trắng và cùng uống với ông Rah Lan Dr và ngủ tại đây và đến sáng ngày 19/10/2017, các bị cáo tiếp tục uống rượu và nằm ngủ tại nhà ông Rah Lan Dr. Sau khi phát hiện bị mất xe mô tô, anh Nay R cùng người thân đi tìm xe, khi đến buôn H’Lang, xã Chư Rcăm, huyện Krông Pa thì anh R nhìn thấy chiếc xe mô tô của mình bị mất dựng dưới nhà sàn của ông Rah Lan Dr, anh R vào xem thì thấy xe mô tô đã bị tháo biển số, mặt nạ yếm ngắn hai bên bị mất, đèn stop phía sau bị vỡ, anh R đến hỏi chị H’U và nói đây là xe mô tô của anh bị mất nên xin lấy xe về. Sau khi ngủ dậy nghe chị H’U nói chủ xe đã đến lấy xe về, bị cáo Kh và L sợ bị bắt nên bỏ trốn, còn bị cáo Y do say rượu nên tiếp tục ngủ tại nhà Uyên. Đến 14 giờ cùng ngày thì Công an xã Ia Rsươm mời Y về trụ sở làm việc. Như vậy, hành vi lén lút, bí mật, nhanh tróng và trực tiếp chiếm đoạt xe mô tô loại Yamaha- Sirius, màu đen-trắng, biển kiểm soát 81N1-063.72 của các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật. [2] Hành vi nêu trên của các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS 1999. Tuy nhiên căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đối chiếu hình phạt quy định tại Điều 138 BLHS 1999 và Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) thì ngang bằng nhau nên hành vi của các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. [3] Về tình tiết định khung hình phạt: hành vi của các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:Các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L là người bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi nguy hiểm và gây hậu quả xấu cho xã hội làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Xét về tính chất vụ án tuy có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự bàn bạc trước, không có sự tổ chức câu kết chặt chẽ với nhau, không phân công công việc cụ thể cho nhau, không lên kế hoạch thực hiện, không có người chỉ huy, cầm đầu nên đây là loại đồng phạm giản đơn. Nay cần xét đến vai trò, mức độ tham gia và nhân thân của mỗi bị cáo để cá thể hóa hình phạt tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo là điều cần thiết. Trong vụ án này bị cáo Ksor Kh là người chủ mưu, khởi xướng và thực hiện rất tích cực việc trộm cắp xe mô tô của anh Nay R nên bị cáo Kh phải chịu trách nhiệm hình sự chính và cao hơn so với các bị cáo khác Tiếp đến bị cáo Rô Y và R’Ô L cũng là những người tham gia tội phạm tích cực. Mặc dù không phải là người chủ mưu, khởi xướng nhưng vì tham lam, các bị cáo đã cùng bị cáo Ksor Kh thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác nên cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Đối với bị cáo Rô Y, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Rô Y đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn, bị cáo cũng bồi thường và tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đây là 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Tuy nhiên, tại bản án số 04/2016/HSST, ngày 25/01/2016, bị cáo Rô Y bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 18/10/2017 nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng theo quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy cần cân nhắc khi lương hình đối với bị cáo Rô Y. Đối với các bị cáo Ksor Kh và R’Ô L, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại không lớn, bên cạnh đó, các bị cáo cũng bồi thường và tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đây là 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Bên cạnh đó, các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn của huyện Krông Pa, trình độ học vấn thấp, có nhận thức về pháp luật, xã hội còn hạn chế và tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS được áp dụng cho các bị cáo. Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận. Xét quan điểm của trợ giúp viên pháp lý đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Ksor Kh 08 tháng tù, xử phạt bị cáo Rô Y 07 tháng tù, xử phạt bị cáo R’ô L 04 tháng tù, Hội
đồng xét xử xét thấy chưa tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và để phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn đang có chiều hướng phức tạp và ngày càng gia tăng. Trong đó có loại tội “Trộm cắp tài sản” đứng hàng đầu trong các loại tội phạm xảy ra. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng giúp cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn. [5] Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã chiếm đoạt xe mô tô loại Yamaha- Sirius, màu đen-trắng, biển kiểm soát 81N1-063.72 của anh Nay R. Chiếc xe này đứng tên chủ sở hữu trong giấy tờ là Bùi Thị H, sau đó bà Hạt chuyền nhượng cho anh Nay R. Bên được nhận tài sản này đều chưa làm thủ tục sang tên, đóng phí trước bạ theo quy định của pháp luật. Sau khi tội phạm bị phát hiện thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa đã tạm giữ và trả lại cho người quản lý hợp pháp là anh Nay R. Còn những phần hư hỏng đã được người bị hại anh Nay R thỏa thuận với các bị cáo và gia đình các bị cáo bồi thường xong. Nay tại phiên tòa thì bị hại anh Nay R, những người có quyền lợi nghãi vụ liên quan đến vụ án bà Rô H’M, ông Ksor H và các bị cáo không có bên nào còn tranh chấp, yêu cầu và đề nghị gì khác, nên trách nhiệm dân sự trong vụ án HĐXX không phải xem xét giải quyết. [6] Về án phí: Các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: -Xử phạt bị cáo Rô Y 09(Chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 19/10/2017. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 -Xử phạt bị cáo Ksor Kh 09(Chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 07/12/2017. -Xử phạt bị cáo R’Ô L 06(Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 14/3/2018. 3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Rô Y, Ksor Kh và R’Ô L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/3/2018) để yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai (01 bản); - VKSND h.Krông Pa (02 bản); - Công an h.Krông Pa (03 bản); - Bị cáo (03 bản); - Bị hại (01 bản); - Người có QLNVLQ (02 bản); - Chi cục THADS h. Krông Pa (01 bản); - Lưu HS vụ án, THA hình sự (02 bản). Ksor Pep | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |