vanban.org

Bản án 14/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tuyên án 19/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/8/2018). Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho Ủy ban nhân dân xã P T, huyện Cần Đ, tỉnh LA theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Tân" Vi phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông" - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CĐ
TỈNH LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/HS-ST
Ngày 09-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ, TỈNH LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Kim Sơn;

Bà Nguyễn Thị Tuyết Sương;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Chinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh LA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh LA tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T (Tên gọi khác: #)f, sinh ngày 09 tháng 6 năm 1997 tại LA; đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 20 tuổi 08 tháng 06 ngày; Nơi đăng ký thường trú: Ấp 3, xã P T, huyện Cần Đ, tỉnh LA; Nơi sinh sống (Cư trú): Ấp 3, xã P T, huyện Cần Đ, tỉnh LA; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (Học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh H và bà Huỳnh Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Chưa có; tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/3/2018 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Bà Lê Thị Nghĩa (đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Ngô Văn G, sinh năm 1937;

Nơi cư trú: 178 Ấp 4, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA;

Ông Ngô Văn G ủy quyền cho Anh Ngô Văn P, sinh năm 1970; địa chỉ: 178 Ấp 4, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Ngô Văn G, sinh năm 1933;

Nơi cư trú: 178 Ấp 4, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA;

2/ Ông Ngô T, sinh năm 1957;

Nơi cư trú: 674/19/8 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh;

3/ Bà Ngô Thị Bé T, sinh năm 1960;

Nơi cư trú: 207/19/18/5 Bạch Đằng, Phường 15, quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh;

4/ Bà Ngô Thị Bé N, sinh năm 1964;

Nơi cư trú: 207/39 Bạch Đằng, Phường 15, quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh;

5/ Bà Ngô Thị Bé L, sinh năm 1968;

Nơi cư trú: 243/46/8 Hoàng Diệu, Phường 4, Quận 4, Tp.Hồ Chí Minh;

6/ Ông Ngô Văn S, sinh năm 1966;

Nơi cư trú: 33/6 Thích Bửu Đăng, Phường 1, quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh;

7/ Bà Ngô Thị Bạch T, sinh năm 1969;

Nơi cư trú: Ấp P Thuận, xã P Lâm, huyện Cần Giuộc, tỉnh LA;

Ông G, ông Tưởng, bà Tư, bà Năm, bà Lan, ông S, bà Tuyết cùng ủy quyền cho anh Ngô Văn P, sinh năm 1970; địa chỉ: 178 Ấp 4, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA; theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA (Có mặt).

8/ Anh Ngô Văn P, sinh năm 1975 (Có mặt);

Nơi cư trú: Ấp 4/178 xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA;

9/ Ông Lê Quốc D, sinh năm 1975 (Có mặt);

Nơi cư trú: 279 Ấp Bà Thoại, xã Tân Lân, huyện Cần Đ, tỉnh LA;

10/ Ông Lê Phát T, sinh năm 1958 (Có mặt);

Nơi cư trú: 134 Ấp Chợ Mỹ, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đ, tỉnh LA;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi của bị cáo:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 15/02/2018, Nguyễn Minh T có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số 51C1-655.91, tải trọng 3.500kg, lưu thông trên đường Tỉnh 830 hướng từ ngã tư Rạch Kiến thuộc xã Long H, huyện Cần Đ đến ngã tư Chợ Trạm thuộc xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đ, tỉnh LA. Bị cáo điều khiển xe với tốc độ 40km/h trên làn đường bên phải, khi đến đoạn đường thuộc Ấp 4, xã Long H, bị cáo phát hiện phía trước cùng chiều cách 200m có xe mô tô biển số 62F3-0200 do ông Lê Phát T điều khiển, chở phía sau bà Lê Thị Nghĩa, bị cáo định vượt qua, khi 02 xe còn cách nhau khoảng 50m, cùng lúc đó ông Tới điều khiển cho xe chuyển hướng từ lề phải sang lên trái nên bị cáo đánh lái sang trái để tránh, nhưng do khoảng cách gần nên đầu xe của bị cáo va chạm vào đuôi xe mô tô của ông Tới làm cho xe mô tô, ông Tới, bà Nghĩa ngã xuống đường, bà Nghĩa tử vong tại hiện trường, ông Tới bị xây xát nhẹ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tân thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo khai: Bị cáo được anh Lê Quốc D thuê chạy xe, trả lương theo tháng, anh D giao xe ô tô tải biển số 51C1-655.91 cho bị cáo chạy. Ngày 15/02/2018, sau khi giao hàng xong, trên đường về đến địa phận Ấp 4, xã Long H, bị cáo vượt xe mô tô biển số 62F3-0200 của ông Tới đang chạy cùng chiều thì xảy ra va chạm, làm bà Nghĩa ngồi sau xe mô tô tử vong tại chỗ; điểm va chạm trên phần đường bên trái ngược chiều của hai xe. Lúc vượt, bị cáo không mở tín hiệu xin vượt và còi báo do phần đường bên trái không có xe ngược chiều đi tới và bị cáo nghĩ sẽ lách vượt qua được xe của ông Tới. Bị cáo bị truy cứu về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, không oan sai; Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo không có ý kiến về Kết luận giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường mà Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép, không ai bức cung nhục hình. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo cùng anh D bồi thường toàn bộ chi phí mai táng cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000 đồng; nay bị cáo đồng ý bồi hoàn lại số tiền 50.000.000 đồng theo yêu cầu của anh D, thời hạn bồi hoàn là 03 tháng, tính từ ngày 09/8/2018 đến ngày 09/11/2018.

Anh Ngô Văn P là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại, người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa như sau: Sáng ngày 15/02/2018, mẹ của anh là bà Nghĩa đi chợ Rạch Kiến, đến khoảng hơn 06 giờ cùng ngày thì gia đình nhận được tin báo bà Nghĩa bị tai nạn tử vong. Phía chủ xe đã bồi thường cho gia đình anh 150.000.000 đồng chi phí mai táng, xây mộ và các chi phí khác. Nay anh đại diện cho gia đình không có yêu cầu bị cáo hay chủ xe bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần. Về trách nhiệm hình sự, anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Lê Phát T có lời trình bày tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa: Ông làm nghề lái xe ôm tại chợ Rạch Kiến, sáng ngày 15/02/2018, bà Nghĩa kêu ông chở về nhà. Ông chở bà Nghĩa lưu thông trên đường tỉnh 830 đến đoạn Ấp 4, xã Long H, bà Nghĩa kêu ông sang đường để mua 02 chậu hoa chưng Tết, ông quan sát phía sau không thấy có xe nào nên mở đèn tính hiệu rẽ trái sang đường. Khi ra đến giữa đường, ông nhìn lại phía sau thấy có chiếc xe ô tô tải chạy đến cách xe ông khoảng 15-20m, chỉ một thời gian rất ngắn tiếp đó, chiếc xe ô tô tải này đụng vào đuôi xe của ông nghe tiếng “đùng”, lúc này xe của ông đã sang đến phần đường dành cho xe đi ngược chiều. Bà Nghĩa té xuống đường bị bánh xe tải cán tử vong, còn ông bị xây xát nhẹ, xe của ông kẹt vào đầu xe ô tô tải, bị hư và chi phí sửa chữa hơn 02 triệu đồng, nhưng do là rủi ro không ai muốn nên ông chỉ yêu cầu chủ xe ô tô tải bồi thường 1.000.000 đồng và chủ xe đã bồi thường cho ông, ông không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Anh Lê Quốc D trình bày tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa như sau: Anh thuê Tân chạy xe cho cơ sở của anh, trả lương theo tháng, khoảng 06 giờ ngày 15/02/2018 anh nghe Tân gọi điện thoại báo xe bị tai nạn. Anh đã bồi thường cho gia đình người bị hại 150.000.000 đồng và chi phí sửa xe cho ông Tới 1.000.000 đồng. Từ ngày xảy ra sự việc cho đến nay, Tân và gia đình chưa đến gặp anh nói chuyện lần nào. Nay anh yêu cầu Tân bồi hoàn cho anh 50.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng, tính từ ngày 09/8/2018 đến ngày 09/11/2018.

Bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đ, tỉnh LA truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo điều khiển xe ô tô tải vượt xe mô tô của ông Tới nhưng không mở tín hiệu xin vượt, khi phát hiện ông Tới điều khiển xe sang đường nhưng bị cáo vẫn đánh lái sang trái để vượt dẫn đến đầu xe của bị cáo va chạm vào đuôi xe của ông Tới làm cho bà Nghĩa tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cùng chủ xe bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và được bãi nại. Ngoài ra, bị cáo chấp hành tốt Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, kể từ khi xảy ra tai nạn giao thông cho đến nay không vi phạm pháp luật nên cần xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, cho bị cáo hưởng án treo vẫn đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 41; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe tải trong thời gian 01 đến 02 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chủ xe đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Gia đình người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không xem xét đề cập. Anh D yêu cầu bị cáo bồi hoàn 50.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên cần công nhận sự tự nguyện thỏa thuận.

Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, việc bị cáo bị truy tố về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không oan, không sai; bị cáo không có ý kiến gì về tội danh và hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.

Anh P, anh D và ông Tới không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét nội dung vụ án: Bị cáo Nguyễn Minh T có giấy phép lái xe Hạng B2 theo quy định. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 15/02/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 51C1-655.91, tải trọng 3.500kg, lưu thông trên đường Tỉnh 830 thuộc địa phận Ấp 4, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh LA thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 62F3-0200 do ông Lê Phát T điều khiển cùng chiều chở phía sau bà Lê Thị Nghĩa. Hậu quả làm bà Nghĩa tử vong tại chổ, ông Tới bị xây xát nhẹ.

Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lập hồi 07 giờ 45 phút ngày 15/02/2018, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông lập hồi 07 giờ 30 phút cùng ngày xác định điểm va chạm của hai xe nằm bên phần đường lưu thông theo chiều ngược lại. Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 56 ngày 01/03/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh LA kết luận nguyên nhân chết của bà Lê Thị Nghĩa do tác động ngoại lực làm đứt ngang vùng cổ và dập nát vùng ngực phía trên. Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông lập ngày 15/02/2018 xác định đầu xe tải va chạm vào đuôi xe mô tô, các dấu hiệu va chạm của 02 xe phù hợp với các bản ảnh chụp tại hiện trường, lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; xe mô tô vẫn còn tín hiệu đèn xi nhan phía bên trái.

Bị cáo Tân điều khiển xe ô tô tải vượt xe mô tô của ông Tới nhưng không mở tín hiệu xin vượt, khi thấy xe mô tô của ông Tới sang đường nhưng bị cáo vẫn nghĩ sẽ vượt được nên tiếp tục lách sang trái để vượt lên là nguyên nhân chính dẫn đến va chạm, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý vì quá tự tin. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ:

“1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 05 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về phía bên phải”.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”

Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cùng với chủ xe bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; đây là 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo tại ngoại đã chấp hành tốt yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, không có phản ánh vi phạm pháp luật; gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình Sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Xét hình phạt:

Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người; tình hình tai nạn giao thông tại địa phương đang có xu hướng gia tăng, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo lái xe ô tô tải trong một thời gian nhất định kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét trách nhiệm dân sự: Bị cáo, chủ phương tiện (anh D) và gia đình người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định phần trách nhiệm đã thỏa thuận xong, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, không đề cập. Anh D yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền 50.000.000 đồng và bị cáo đồng ý, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và anh D nên Hội đồng xét xử công nhận.

Về vật chứng, tang vật của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Đ giao trả xe mô tô biển số 62F3-0200 cho ông Lê Phát T và giao trả xe ô tô tải biển số 51C1-655.91 cho ông Lê Quốc D là phù hợp, nên không xem xét đề cập. Đối với Giấy phép lái xe hạng B2 , vật liệu PET, số 800153007930 do Sở giao thông vận tải tỉnh LA cấp cho Nguyễn Minh T ngày 17/11/2015 giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đ, tỉnh LA tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung, sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung thì giao trả lại cho bị cáo nếu Giấy phép lái xe này vẫn còn thời hạn sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 98; các khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 41 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/8/2018).

Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho Ủy ban nhân dân xã P T, huyện Cần Đ, tỉnh LA theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Tân) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (bị cáo Tân) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sụng: Cấm bị cáo Nguyễn Minh T lái xe ô tô tải trong thời hạn 02 năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh T và anh Lê Quốc D, cụ thể: Bị cáo Tân bồi hoàn lại cho anh Lê Quốc D số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng, tính từ ngày 09/8/2018 đến ngày 09/11/2018.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành theo Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về vật chứng của vụ án: Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đ, tỉnh LA tạm giữ 01 Giấy phép lái xe hạng B2, vật liệu PET, số 800153007930 do Sở giao thông vận tải tỉnh LA cấp cho Nguyễn Minh T ngày 17/11/2015, sau khi bị cáo Nguyễn Minh T chấp hành xong hình phạt bổ sung thì giao trả lại cho bị cáo nếu Giấy phép lái xe này vẫn còn thời hạn sử dụng.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo Nguyễn Minh T, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đại diện hợp pháp người bị hại;

- Người bào chữa (Nếu có);

- Người có QLNVLQ;

- VKSND huyện Cần Đ;

- TAND tỉnh LA;

- VKSND tỉnh LA;

HUỲNH HỮU NGH

- Cơ quan CSĐT CA huyện Cần Đ;

- Nhà tạm giữ Công an huyện Cần Đ;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của

Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ