vanban.org

Bản án 14/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th

Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 04/3/2007 và cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 07/3/2012. Anh Nguyễn Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung, không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/HNGĐ-ST
Ngày 11 - 5 - 2018
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chuyên và ông Dương Văn Vườn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Lưỡng, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Nh, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Nh, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Th kết hôn ngày 14/12/2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh Th, năm 2004 anh chị ra ở riêng tại thôn Nh, xã T. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Th thường xuyên đi làm ăn xa, có quan hệ ngoại tình, không quan tâm và có trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, xô sát, chị và gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng anh Th vẫn không thay đổi, từ năm 2015 anh chị sống ly thân. Chị xác định tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th.

Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 04/3/2007 và cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 07/3/2012 hiện đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi hai con chung, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Th: Tòa án đã làm các thủ tục triệu tập hợp lệ mà anh Th vẫn vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về giao con chung của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn Th; anh Th có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Văn Th, anh Th biết việc chị H có đơn xin ly hôn nhưng anh Th không đến Tòa án để làm việc và cũng không thông báo chính quyền địa phương về việc thay đổi nơi cư trú của mình. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, do anh Th không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, từ năm 2015 anh chị sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần, mặc dù anh Th biết việc chị H có đơn xin ly hôn nhưng không hợp tác và không đến Tòa án để làm việc. Qua xác minh tại địa phương, thể hiện: Anh Th không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên đi làm xa, không có trách nhiệm với gia đình và vợ con. Do vậy, hôn nhân của chị H và anh Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh Th là phù hợp.

. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị H xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 04/3/2007 và cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 07/3/2012, hiện hai cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H đề nghị được tiếp tục nuôi hai cháu, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, yêu cầu của chị H là hoàn toàn tự nguyện, quá trình giải quyết vụ án cháu D và cháu Đ cũng khẳng định anh Th thường xuyên vắng nhà, không quan tâm, chăm sóc các cháu. Mặt khác do anh Th vắng mặt nên cần giao cháu D và cháu Đ cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.

. Về quan hệ tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh Th vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:

1. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th

2. Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 04/3/2007 và cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 07/3/2012. Anh Nguyễn Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung, không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

3. Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0002975 ngày 06 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ