vanban.org

Bản án 14/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 14/2018/HNGĐ-ST
Ngày 27/3/2018
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒ A Á N NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁ O, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Hào;

Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2018, ta ̣i tru ̣ sở Toà án nhân dân huyê ̣n Phú Giáo, tinh Binh Dương xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số 391/2017/TLST-̉

̀ HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2017 về "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1978;

Địa chỉ cư trú: Số nhà 192, tổ 3, khu phố 4, thị trấn P, huyện P, tỉnh B. Có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1978;

Địa chỉ cư trú: Số nhà 192, tổ 3, khu phố 4, thị trấn P, huyện P, tỉnh B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Trung T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào 2002 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh B. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn: Hai vợ chồng thường bất đồng quan điểm và hay cãi nhau, không hợp nhau. Tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không hàn gắn được nữa. Hiện tại, bà và ông T không còn chung sống với nhau, cuộc sống hai vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Vì vậy, bà quyết định ly hôn với ông Nguyễn Trung T.

Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/3/2003; Nguyễn Ngọc Liễu H, sinh ngày 27/3/2004 và Nguyễn Trung H, sinh ngày 02/01/2013. Hiện tại, ba con chung Nguyễn Trung H, Nguyễn Ngọc Liễu H và Nguyễn Trung H đang sống cùng bà H. Nếu được Tòa án cho ly hôn với ông T, đối với con chung Nguyễn Trung H và Nguyễn Ngọc Liễu H, vì hai con đã trên 07 tuổi, bà xin tôn trọng quyền quyết định của hai con. Nếu hai con chung Nguyễn Trung H và Nguyễn Ngọc Liễu H có nguyện vọng ở cùng bà H, bà không yêu cầu ông Nguyễn Trung T cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Trung H và Nguyễn Ngọc Liễu H. Đối với con chung Nguyễn Trung H, bà xin được quyền nuôi con chung Nguyễn Trung H, bà Phạm Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Trung T cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Trung H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Trung T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử không thể xem xét ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trinh thụ lý,

̀ chuẩn bi ̣ xét xử và ta ̣i phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đa thự̃

c hiê ̣n theo đúng quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Theo nguyện vọng của hai con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/3/2003 và Nguyễn Ngọc Liễu H, sinh ngày 27/3/2004 được ở cùng mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Cháu Nguyễn Trung H do cháu còn nhỏ, để không ảnh hưởng tâm sinh lý và sự phát triển bình thường về sau của trẻ nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trung H cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Trung T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hiện bị đơn ông Nguyễn Trung T đang tạm trú tại thị trấn P, huyện P, tỉnh B và nguyên đơn bà Phạm Thị H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn ông Nguyễn Trung T, nhưng ông Tuyến vắng mặt trong các buổi hoà giải, phiên toà sơ thẩm và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến cho Toà án về việc khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị H. Do vậy, Toà án căn cứ vào các Điều 5, 6, 91 và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn ông Nguyễn Trung T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh B nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tin tưở ng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn.

Theo biên bản xác minh tại thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo ngày 17 tháng 11 năm 2017 thì cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông T có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông T và bà H địa phương không nắm rõ, do đương sự giải quyết nội bộ, không nhờ chính quyền địa phương can thiệp giải quyết và không có đơn yêu cầu.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng bà H và ông T đa trẫ ̀m tro ̣ng, đờ i sống chung không thể kéo dài, mu ̣c đich hôn nhân không đa ̣t được

́ nên xem xét chấp nhận cho bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Trung T.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 03 con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/3/2003; Nguyễn Ngọc Liễu H, sinh ngày 27/3/2004 và Nguyễn Trung H, sinh ngày 02/01/2013. Hiện tại, ba con chung Nguyễn Trung H, Nguyễn Ngọc Liễu H và Nguyễn Trung H đang sống cùng bà H. Hiện nay, cháu Nguyễn Trung H và cháu Nguyễn Ngọc Liễu H đã trên 07 tuổi, theo nguyện vọng của cháu H và cháu Liễu H muốn được ở cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Nguyễn Trung H và Nguyễn Ngọc Liễu H cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và Nguyễn Trung H còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ và để không ảnh hưởng tâm sinh lý, sự phát triển bình thường về sau của trẻ nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trung H cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu, điều kiện nuôi dưỡng con chung của bà Phạm Thị H. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà Phạm Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Trung T phải cấp dưỡng nuôi ba con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Trung T cấp dưỡng nuôi ba con chung Nguyễn Trung H, Nguyễn Ngọc Liễu H và Nguyễn Trung H.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ vào:

- Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91 và các Điều 147, 227, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 86 và 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Trung T về việc “Tranh chấp ly hôn”.

2. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Trung T.

3. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/3/2003; Nguyễn Ngọc Liễu H, sinh ngày 27/3/2004 và Nguyễn Trung H, sinh ngày 02/01/2013 cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Trung T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Trung T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con không ai được ngăn cản. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định pháp luật.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phi: Bà Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

́ đồng) án phi hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng

́ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0008298 ngày 02 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ