- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Chi H yêu cầu Tòa án xử được ly hôn với anh Hg đã được tuyên bố mất tích."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Hg.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/HNGĐ-ST Ngày: 27-4-2018 V/v tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Công Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Phạm Thị Hồng Loan.
2. Bà Trần Thị Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 45/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2018, về tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thu H, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Tổ 07, ấp V , xã B , huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Hg, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Tổ 07, ấp V, xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Hg vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, các văn bản làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Hoàng Thị Thu H trình bày:
Bà Hoàng Thị Thu H và ông Nguyễn Quốc Hg tìm hiểu nhau rồi đi đến kết hôn, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 15/9/2006 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu, giữa ông Hg và bà H sống hạnh phúc, lo làm ăn, sinh được 02 con chung. Sau này thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa bà H và ông Hg thường xuyên cãi vả, không hòa hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, ngày càng căng thẳng nên dẫn đến tình trạng là ông Hg bỏ nhà đi. Ông Hg đã bỏ nhà đi nơi khác bà H đã tìm kiếm trên nhiều phương tiện thông tin nhưng vẫn không có tin tức gì về ông Hg và bà H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hg mất tích. Tại quyết định giải quyết việc dân sự số 11/2017/QĐST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tuyến bố ông Hg mất tích. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Hg.
Về con chung: Bà Hoàng Thị Thu H và ông Nguyễn Quốc Hg có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh ngày: 23/7/2007; Nguyễn Hoàng B, sinh ngày: 22/5/2009.
Cháu K và cháu B đang ở với bà H nên bà H có nguyện vọng xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các cháu cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Bà Hoàng Thị Thu H không yêu cầu ông Nguyễn Quốc Hg phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc Hg không đến tòa án để làm việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án bà H và ông Hg chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Hg nên Tòa án cần xử chấp nhận yêu cầu của bà H. Về con chung, bà H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, cháu Bảo và không yêu cầu ông Hg cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp nên Tòa án cần xử chấp nhận yêu cầu của bà H. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà H và ông Hg có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì khởi kiện bằng một vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Hoàng Thị Thu H và ông Nguyễn Quốc Hg tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 15/9/2006 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nay bà H yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Nơi cư trú cuối cùng của ông Nguyễn Quốc Hg là ấp V , xã B , huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36; khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Quốc Hg đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử. Ông Nguyễn Quốc Hg vắng mặt, bà Hoàng Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà H, ông Hg là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS 2015.
Bà Hoàng Thị Thu H và ông Nguyễn Quốc Hg tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 15/9/2006 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu, giữa ông Hg và bà H sống hạnh phúc, lo làm ăn, sinh được 02 con chung. Sau này thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa bà H và ông Hg thường xuyên cãi vả, không hòa hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, ngày càng căng thẳng nên dẫn đến tình trạng là ông Hg bỏ nhà đi. Ông Hg đã bỏ nhà đi nơi khác bà H đã tìm kiếm trên nhiều phương tiện thông tin nhưng vẫn không có tin tức gì về ông Hg. Bà H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hg mất tích. Điều này chứng tỏ bà H không còn mong muốn hàn gắn tình cảm, xây dựng gia đình, hạnh phúc bền vững. Do vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà H và ông Hg ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Hg.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H và ông Hg có 02 người con chung là cháu Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh ngày: 23/7/2007 và cháu Nguyễn Hoàng B, sinh ngày: 22/5/2009.
Hiện cháu K và cháu Bảo đang sống chung với bà H và các cháu có nguyện vọng ở với bà H.
Xét thấy, từ khi ông Hg bỏ đi cho đến nay thì cháu K và cháu Bảo do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian ông Hg bỏ đi mặc dù ông Hg không phụ cấp nuôi con chung nhưng bà H vẫn đảm bảo cuộc sống cho cháu K và cháu B về vật chất và tinh thần nên cần áp dụng Điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho bà Hoàng Thị Thu H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K và cháu B. Bà Hoàng Thị Thu H không yêu cầu ông Nguyễn Quốc Hg phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị Thu H không yêu cầu tòa án giải quyết. Nếu sau này, bà H và ông Hg có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà Hoàng Thị Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số TU/2017/0000196 ngày 08/3/2018. Bà Hoàng Thị Thu H đã nộp xong án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36, khoản 2 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Hg.
Về quan hệ con chung: Bà Hoàng Thị Thu H và ông Nguyễn Quốc Hg có 02 người con chung là cháu Nguyễn Hoàng Đăng K, sinh ngày: 23/7/2007 và cháu Nguyễn Hoàng B, sinh ngày: 22/5/2009.
Bà Hoàng Thị Thu H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hoàng Đăng K và cháu Nguyễn Hoàng B.
Bà Hoàng Thị Thu H không yêu cầu ông Nguyễn Quốc Hg phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Quốc Hg có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị Thu H không yêu cầu tòa án giải quyết. Nếu sau này, bà H và ông Hg có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà Hoàng Thị Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số TU/2017/0000196 ngày 08/3/2018. Bà Hoàng Thị Thu H đã nộp xong án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/4/2018), các đương sự có quyền kháng cáo; đối với bà H và ông Hg vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR - VT; - VKSND H.Châu Đức; - Cơ quan THA dân sự H.Châu Đức; - UBND xã K ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Công Hiếu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa |