- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa Mai C và Lê Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/HNGĐ-ST Ngày: 06 tháng 4 năm 2018 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Sỹ
2. Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 06 tháng 4 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 483/2017/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2017 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20.3.2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mai C – sinh năm 1989;
Trú tại: tổ 123, tổ (265 cũ), Phước L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Lê Thị H – sinh năm 1991.
Nơi cư trú cuối cùng: tổ 123, tổ (265 cũ), Phước L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn là ông Mai C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Lê Thị H kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ tổ 123, tổ (265 cũ), Phước L, phường H, quận L thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào cuối năm 2014. Nguyên nhân là do bà H gây gỗ với mẹ chồng, em chồng và tôi, không tôn trọng ý kiến trong gia đình nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, gây mất đoàn kết trong gia đình. Từ tháng 04 năm 2015, bà H bỏ đi biệt tích khỏi địa phương không liên lạc gì cho gia đình, tôi đã tìm kiến nhiều nơi và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì của bà H. Đến tháng 5 năm 2017, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tuyên bố bà H mất tích. Ngày 18/10/2017, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã tuyên bố bà H mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 13/2017/QĐST-DS, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của bà H. Nay, tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Lê Thị H.
- Về quan hệ con chung: Tôi xác nhận vợ chồng có 01 con chung Mai B – sinh ngày 01.4.2014. Ly hôn, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung: Tôi xác nhận không có.
- Về nợ chung: Tôi xác nhận không có.
* Bị đơn là bà Lê Thị H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Mai C cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17.01.2018; không tham gia phiên hòa giải vào ngày 02.02.2018 và ngày 22.02.2018 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa ông Mai C và bà Lê Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại các Điều 208; 209; 210; 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn bà Lê Thị H vắng mặt tại phiên toà không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Lê Thị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
*Về nội dung tranh chấp:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2013, ông Mai C và bà Lê Thị H đã đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Việc kết hôn giữa ông C và bà H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông Mai C và bà Lê Thị H là hợp pháp.
Từ tháng 04 năm 2015, bà H bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay, ông C đã tìm kiếm nhiều nơi và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì của bà H. Tháng 5 năm 2017, ông C yêu cầu Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tuyên bố bà H mất tích. Ngày 18/10/2017, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã tuyên bố bà H mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 13/2017/QĐST-DS và Quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Từ đó đến nay vẫn không có tin tức và không thấy bà H trở về. HĐXX xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Mai C cho rằng trong thời gian hai vợ chồng sống chung thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bản thân ông xác nhận không còn tình cảm với bà H. Tại biên đơn xin xác nhận ngày 17.01.2018, chính quyền địa phương cũng xác nhận quá trình chung sống tại địa phương ông C bà H thường xuyên cãi vã, gây gỗ; vào tháng 04 năm 2015, bà H đã bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay không rõ tin tức. Do đó, việc ông Mai C yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn đối với bà Lê Thị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về quan hệ con chung: Ông Mai C xác nhận vợ chồng có 01 con chung chung Mai B – sinh ngày 01.4.2014. Ly hôn, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung: Ông Mai C không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung.
- Về nợ chung: Ông Mai C khai nhận không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị H cũng không trình bày ý kiến của mình đối với các vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông C và bà H có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
- Về án phí: ông Mai C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Các Điều 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Mai C.
1. Tuyên xử: Ông Mai C – sinh năm 1989 được ly hôn với bà Lê Thị H – sinh năm 1991.
2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) ông Mai C phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000818 ngày 06.12.2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, ông Mai C đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06.4.2018.
Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát Liên Chiểu; - Chi cục Thi hành án Liên Chiểu; - UBND phường Hòa Minh; - Sở Tư pháp; - Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thủy |