- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Đoàn Thị H; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Đoàn Thị H; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Đoàn Thị H
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/DS-ST Ngày: 22-5-2018 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Thiên Lương
2. Bà Nguyễn Thị Minh Hoa
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: Ông Phan Quang Phú - Kiểm sát viên
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2018 về việc “kiện xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2018; Thông báo xét xử số 08/2018/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình. "có mặt"
Bị đơn: Anh Cao Ngọc T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn H, xã T H, huyện T, tỉnh Quảng Bình. "vắng mặt"
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai và tại phiên tòa chị Đoàn Thị H trình bày: Chị và anh Cao Ngọc T tìm hiểu, kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại UBND xã N ngày 30/12/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn vì không hợp tính nhau, không cùng chung quan điểm sống, anh Thanh không quan tâm đến vợ con. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên hai người đã ly thân từ tháng 6 năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì chị H sinh sống tại xã N còn anh T đi làm ăn ở xa, hai bên cũng không liên lạc, không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng xin được ly hôn.
Về con chung của vợ chồng: Chị Đoàn Thị H thừa nhận chị và anh Cao Ngọc T có một con chung là Cao Phương T, sinh ngày 30/10/2011, sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con và yêu cầu anh Cao Ngọc T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Chị Đoàn Thị H thừa nhận chị và anh Cao Ngọc T không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá đã thụ lý vụ án và tiến hành giải quyết vụ án. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng chỉ có mặt chị Đoàn Thị H, vắng mặt anh Cao Ngọc T nên không tiến hành hòa giải được.
Ngày 03/4/2018 Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã tiến hành xác minh tại nhà ông Cao Văn M, trú tại thôn H, xã T H, huyện T (ông M là bố đẻ của anh Cao Ngọc T). Ông M cho biết: Anh Cao Ngọc T là con trai thứ 3 của mình, anh T có hộ khẩu thường trú tại thôn , xã T H, huyện T, hiện tại anh T đang đi làm ăn ở miền nam, khi đi không cắt tạm vắng tạm trú và gia đình cũng không biết rõ địa chỉ của anh T ở đâu. Gia đình có nhận được thông báo thụ lý vụ án và 02 giấy triệu tập của Tòa án triệu tập anh T đến Tòa án để làm việc, sau khi nhận được các giấy triệu tập của Tòa án gia đình đã gọi điện thoại báo cho anh T biết nhưng vì điều kiện ở xa và bận công việc nên anh T không thể về để giải quyết ly hôn được. Việc chị H và anh T ly hôn trong gia đình có biết và đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không có kết quả, hiện nay anh T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H, sau khi ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi con. Về tài sản và nợ chung thì anh T và chị H không có tài sản chung và cũng không vay nợ ai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Đoàn Thị H và anh Cao Ngọc T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2011 tại UBND xã N, huyện T. Cuộc sống vợ chồng bước đầu hạnh phúc nhưng được một thời gian ngắn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng thiếu tin tưởng, không quan tâm đến nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân từ đầu tháng 6 năm 2015 cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên nguyện vọng xin ly hôn của chị Đoàn Thị H là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án anh Cao Ngọc T không hợp tác nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử cho chị Đoàn Thị H được ly hôn vắng mặt anh Cao Ngọc T.
Về con chung của vợ chồng: Chị Đoàn Thị H và anh Cao Ngọc T có một con chung tên là Cao Phương T, sinh ngày 30/10/2011. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu anh Cao Ngọc T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Anh T cũng có nguyện vọng được nuôi con nhưng hiện tại anh T đi làm ăn ở xa, cháu T đang chung sống cùng ông bà nội nên nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con của chị H là phù hợp. Vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 81; Điều 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Cao Phương T, sinh ngày 30/10/2011 cho chị Đoàn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Cao Ngọc T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 6 năm 2018 đến khi con trưởng thành.
Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Chị Đoàn Thị H và anh Cao Ngọc T không có tài sản chung, không có nợ chung nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Chị Đoàn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, anh Cao Ngọc T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá phát biểu ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật và tại phiên toà Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo quyền lợi của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Đoàn Thị H được ly hôn vắng mặt anh Cao Ngọc T; về con chung áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Cao Phương T cho chị Đoàn Thị H nuôi dưỡng, anh Cao Ngọc T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Các bên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử chị Đoàn Thị H ly hôn vắng mặt anh Cao Ngọc T
2. Về nuôi con chung: Áp dụng khoản 2 Điều 81; Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Cao Phương T, sinh ngày 30/10/2011 cho chị Đoàn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Cao Ngọc T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) kể từ tháng 6 năm 2018 đến khi con đủ 18 tuổi.
Không ai được ngăn cản việc đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Chị Đoàn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003605 ngày 01/3/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá nay được khấu trừ.
Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Cao Ngọc T phải chịu 300.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố các bên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/5/2018). Đối với bị đơn vắng mặt thời hạn trên tính từ ngày niêm yết bản án nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Các đương sự; - Chi cục THADS Tuyên Hóa; - UBND xã N; - Lưu Hồ sơ vụ án, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thanh Dần |