vanban.org

Bản án 14/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với anh Trần Đại N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Buộc anh Trần Đại N phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ gốc là 25.735.460 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngan hang TMCP V = Tran Dai N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2017/DS-ST
Ngày: 15-8-2017
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Giang

2. Bà Trần Thị Quỳnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Ngày 15 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2017/TLST-DS, ngày 04 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2017/QĐXXST-DS, ngày 01/8/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 1-7 T, số 72 phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng V – sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số 16, đường N, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/4/2017).

- Bị đơn: Anh Trần Đại N, sinh năm 1993

Trú tại: Tổ 1B, khu phố 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Anh V có mặt, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần V anh Nguyễn Hoàng V trình bày:

Ngày 20/10/2014 anh Trần Đại N có ký hợp đồng tín dụng số 20141030-100045-0014 với Ngân hàng TMCP V vay số tiền 31.500.000đ với lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, anh Trần Đại N có trách nhiệm thanh toán số tiền 54.785.000đ cho Ngân hàng trả chậm trong 24 tháng. Trong 23 tháng đầu, mỗi tháng, trả số tiền 2.283.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.276.000 đồng. Thanh toán vào ngày 03 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 03/12/2014. Bảng kê chi tiết số tiền gốc và tiền lãi khách hàng phải thanh toán hàng tháng được bên nguyên đơn đính kèm theo bản tự khai.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho Ngân hàng 07 lần với số tiền 15.981.000đ (Trong đó, nợ gốc là 5.764.540 đồng và tiền lãi là 10.216.460 đồng). Kể từ ngày 25/12/2015, anh N không thanh toán bất cứ khoản nào dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N phải trả toàn bộ khoản nợ gốc còn lại: 25.735.460 đồng, còn tiền lãi từ tháng 12/2015 đến ngày Tòa án xét xử vụ án thì Ngân hàng không yêu cầu anh N phải trả.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị đơn Trần Đại N trình bày:

Anh có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần V (VP Bank) số tiền 31.500.000đ. Anh đã trả cho Ngân hàng được một phần tiền nợ gốc và tiền nợ lãi. Nay, ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh thanh toán số tiền nợ gốc còn thiếu 25.735.460 đồng thì anh đồng ý trả cho ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. anh N vay tiền của Ngân hàng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Tại phiên tòa, anh N vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung vụ án:

Ngày 20/10/2014, anh Trần Đại N có ký hợp đồng tín dụng số 20141030-100045-0014 với Ngân hàng TMCP V vay số tiền 31.500.000đ với lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, anh N có trách nhiệm thanh toán số tiền 54.785.000đ trả chậm trong 24 tháng. Trong 23 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.283.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.276.000 đồng. Thanh toán vào ngày 03 hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 03/12/2014.

Anh N đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Ngân hàng 07 lần với số tiền 15.981.000đ (Trong đó, nợ gốc là 5.764.540 đồng và tiền lãi là 10.216.460 đồng). Kể từ ngày 25/12/2015, anh N không thanh toán bất cứ khoản nào cho Ngân hàng. Ngân hàng yêu cầu anh N phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc còn thiếu là 25.735.460 đồng

[3 ] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng, anh N không thanh toán gốc lãi cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết. Cả anh N và Ngân hàng đều xác định anh còn thiếu Ngân hàng số tiền 25.735.460 đồng. Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh N thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là 25.735.460 đồng, không yêu cầu tính tiền nợ lãi cho đến ngày Tòa án xét xử, anh N cũng đồng ý thanh toán cho ngân hàng số tiền này. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc anh Trần Đại N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25.735.460 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Anh Trần Đại N phải chịu 1.286.773 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 471, 474, 478 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

- Áp dụng án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với anh Trần Đại N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

- Buộc anh Trần Đại N phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ gốc là 25.735.460 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi đồng).

- Kể từ ngày 16/8/2017, anh Trần Đại N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 20141030-100045-0014 ngày 20/10/2014 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Về án phí:

- Anh Trần Đại N phải chịu 1.286.773 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 643.000 (sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng), theo biên lai thu số 005228 ngày 04/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

3. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ