- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc B và bị đơn: Ông Võ Đình Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc B đối với ông Võ Đình Q:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1391/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
Thư ký phiên toà: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1206/2020/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 250/2022/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc B, sinh năm: 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, Quảng Nam.
Tạm trú: Ấp K, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Ông Võ Đình Q, sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ tạm trú: Ấp K, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2020, bản tự khai ngày 23/11/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị Ngọc B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2004 bà và ông Võ Đình Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An ngày 02/02/2004. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, ông Q hay ăn nhậu rồi về nhà dùng những lời nói không chuẩn mực dẫn đến vợ chồng xảy ra va chạm, cuộc sống gia đình không lúc nào yên ổn, ảnh hưởng đến các con. Mặc dù, ông Võ Đình Q đi làm và có thu nhập (làm trần thạch cao) nhưng không phụ vợ lo cho gia đình, bao nhiêu tiền kiếm được chỉ lo ăn nhậu rồi về nhà kiếm chuyện, để một mình bà phải buôn bán lo cho hai con. Bà B nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Đình T, sinh ngày 12/12/2003 và Võ Đình V, sinh ngày 27/8/2013. Cháu T đã thành niên và đã nhập ngũ ngày 16/01/2022 âm lịch, bà B yêu cầu được nuôi cháu Đình V, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn là ông Võ Đình Q đã được Tòa án nhân dân huyện H triệu tập và tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng không có ý kiến đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn là bà Võ Thị Ngọc B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn là ông Võ Đình Q đã được Tòa án nhân dân huyện H triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Việc bà Võ Thị Ngọc B yêu cầu ly hôn với ông Võ Đình Q là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bởi mâu thuẫn hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; cháu Võ Đình T, sinh ngày 12/12/2003 đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; giao cháu Đình V cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn tạm thời chưa phải cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn chưa có yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn tự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Võ Đình Q nhưng ông Q không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà B đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do nên giữa các đương sự không thống nhất được bất kỳ nội dung nào của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Võ Thị Ngọc B có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Võ Đình Q. Ông Võ Đình Q cư trú tại ấp K, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và quan hệ tranh chấp là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Võ Thị Ngọc B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Võ Đình Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành x t xử vắng mặt đối với đương sự là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc B và ông Võ Đình Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An ngày 02/02/2004 (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 39, quyển số II ngày 02/02/2004) nên có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông Q là hợp pháp, quyền lợi của các bên được pháp luật bảo vệ.
. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là bà Võ Thị Ngọc B, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, ông Võ Đình Q hay ăn nhậu rồi về nhà dùng những lời nói không chuẩn mực dẫn đến vợ chồng xảy ra va chạm, cuộc sống gia đình không lúc nào yên ổn, ảnh hưởng đến các con. Mặc dù, ông Q đi làm và có thu nhập (làm trần thạch cao) nhưng không phụ vợ lo cho gia đình, bao nhiêu tiền kiếm được chỉ lo ăn nhậu rồi về nhà kiếm chuyện, để một mình bà phải lo buôn bán lo cho hai con.
. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải thích, động viên bà B đoàn tụ gia đình, cho ông Q cơ hội để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con nên người nhưng bà B cho rằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn.
. Về phần ông Q, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện H tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Q không có bất cứ ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, điều này cho thấy ông Q đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải tự chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ trên yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét, giải quyết vụ án. Trong suốt thời gian bà B nộp đơn yêu cầu ly hôn, ông Q cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ ông Q cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.
. Nhận thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, giữa bà B và ông Q không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau.
. Xét mâu thuẫn chung giữa bà B và ông Q đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà B yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.
. Về con chung: Bà Võ Thị Ngọc B và ông Võ Đình Q có 02 con chung tên Võ Đình T, sinh ngày 12/12/2003 và Võ Đình V, sinh ngày 27/8/2013. Bà B yêu cầu được nuôi cháu Đình V, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
. Xét cháu Đình T đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Xét yêu cầu của bà B được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đình V: Theo xác minh tại địa phương thì cháu Đình V đang sống cùng mẹ, bản thân cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Xét nguyện vọng của cháu Đình V, xét bà B có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, do đó để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý và quyền lợi của cháu Đình V, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà B được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đình V là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Do bà B chưa có yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy, bà B, ông Q phải tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Ngọc B xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: Bà Võ Thị Ngọc B xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Võ Thị Ngọc B là người nộp đơn yêu cầu ly hôn đối với ông Võ Đình Q nên bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.
. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ vào các điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc B đối với ông Võ Đình Q:
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc B được ly hôn với ông Võ Đình Q.
Giấy chứng nhận kết hôn số số 39, quyển số II, đăng ký kết hôn giữa bà Võ Thị Ngọc B và ông Võ Đình Q tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An ngày 02/02/2004 không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
3. Về con chung: Bà Võ Thị Ngọc B và ông Võ Đình Q có 02 con chung tên Võ Đình T, sinh ngày 12/12/2003 và Võ Đình V, sinh ngày 27/8/2013.
Cháu Đình T đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Giao cháu Võ Đình V, sinh ngày 27/8/2013 cho bà Võ Thị Ngọc B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ông Q tạm thời chưa phải cấp dưỡng nuôi con do bà B chưa có yêu cầu.
Ông Võ Đình Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
4. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Ngọc B xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về nợ chung: Bà Võ Thị Ngọc B xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Ngọc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2019/0076696 ngày 10 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Võ Thị Ngọc B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận : - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND H.H, TP.HCM; - Chi cục THADS H. H; - UBND xã D, huyện C; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huy |