vanban.org

Bản án 1390/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

đổi, bổ sung năm 2017);

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1390/2022/DS-ST
Ngày: 27-4-2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Khê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Thanh Giàu

2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nguyên – Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

07/2021/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng vay

tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1787/2022/QĐXXST-DS ngày

30 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Trụ sở: Lầu 8, số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường T, Quận B,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm

1970, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, là đại diện ủy

quyền theo Giấy ủy quyền ngày 08 tháng 7 năm 2020

Địa chỉ: Số 11/5/15, Khu phố 2A, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí

Minh.

2. Bị đơn: Bà Võ Thị Ngọc S, sinh năm 1966

Địa chỉ: Số 241/7 Tăng Nhơn Phú, Tổ 2, Khu phố 3, phường B, thành phố

T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Lã Ngọc M, bà Võ Thị Ngọc S đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, người đại diện hợp pháp của

nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trình bày:

Ngày 27 tháng 11 năm 2008, bà Võ Thị Ngọc S có ký với Ngân hàng

Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, cùng với Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này sau đây gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của bà S, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa số 472074-5222, với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng và được sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà S đã thực hiện các giao dịch với tổng

số tiền là 15.938.202 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, bà S đã

thanh toán cho Ngân hàng số tiền 15.877.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Do khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 2

của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà S từ ngày 01 tháng 7 năm 2011; đồng thời, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Tạm tính đến ngày 23 tháng 11 năm 2021, bà S còn nợ Ngân hàng tổng số

tiền là 30.261.075 đồng, gồm: 6.183.013 đồng nợ gốc và 24.078.062 đồng nợ lãi quá hạn (lãi suất quá hạn áp dụng: 150% x mức lãi suất trong hạn = 150% x 2,15% = 3,225%).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà S vẫn không có thiện chí trả

nợ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thị Ngọc S phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 23 tháng 11 năm 2021 là 30.261.075 đồng, gồm: 6.183.013 đồng nợ gốc và 24.078.062 đồng nợ lãi quá hạn. Bà Võ Thị Ngọc S phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh của Hợp đồng từ ngày 24 tháng 11 năm 2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ

lý vụ án, giấy triệu tập cho bà Võ Thị Ngọc S đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà S đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lã Ngọc M có đơn yêu

cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông có nộp cho Tòa án bảng tóm tắt sao kê tính lãi đối với khách hàng Võ Thị Ngọc S tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 27 tháng 4 năm 2022).

Bị đơn bà Võ Thị Ngọc S vắng mặt không rõ lý do;

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của

Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền

hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố

tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia

tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật;

Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.

Về nội dung vụ án: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị

Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng

Thương mại Cổ phần S nộp đơn khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Ngọc S phải thanh

toán khoản nợ còn thiếu theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bà S có nơi cư trú

tại phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp

hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành

phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a

khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Lã

Ngọc M có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn – bà Võ Thị Ngọc S vắng

mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng

dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lã Ngọc M, bà Võ Thị Ngọc S.

Xét yêu cầu của đương sự:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa

và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội

đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 27 tháng 11 năm 2008, bà Võ Thị Ngọc S có ký với Ngân hàng

Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín

dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, cùng với Bản

Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các

tài liệu này sau đây gọi chung là Hợp đồng). Xét Hợp đồng tín dụng nêu trên

giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa

thuận trong Hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên

tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng nên Hợp đồng tín dụng này phù hợp với

quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung

năm 2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Sau

khi được cấp Thẻ tín dụng, bà S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là:

15.938.202 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 15.877.000 đồng sau đó thì không trả nữa. Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng bà S vẫn không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng của bà S đối với thẻ tín dụng Visa số 472074-5222 từ ngày 01 tháng 7 năm 2011; đồng thời, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn là đúng với quy định tại Điều 23 của Hợp đồng. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 27 tháng 4 năm 2022), bà S còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền 31.243.465 đồng, gồm 6.183.013 đồng nợ gốc và 25.060.452 đồng nợ lãi quá hạn. Xét phía bà S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bà S thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP

ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 28 tháng 4 năm 2022 trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tại phiên tòa

phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của

nguyên đơn, buộc bị đơn bà Võ Thị Ngọc S phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 31.243.465 đồng, gồm 6.183.013 đồng nợ gốc và 25.060.452 đồng nợ lãi quá hạn, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 28 tháng 4 năm 2022 cho đến khi thi hành án xong, bà S còn

phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Về án phí: Bị đơn – bà Võ Thị Ngọc S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 184; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại

Cổ phần S:

Buộc bà Võ Thị Ngọc S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương

mại Cổ phần S số tiền 31.243.465 đồng, gồm: 6.183.013 đồng nợ gốc và

25.060.452 đồng nợ lãi quá hạn, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực

pháp luật.

Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 28 tháng 4 năm 2022 cho đến khi thi hành án xong, bà Võ Thị

Ngọc S còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức

lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

2. Về án phí:

Bà Võ Thị Ngọc S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.562.173 đồng,

nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã

nộp là 565.912 đồng theo Biên lai thu tạm ứng số: AA/2017/0021581 ngày 17

tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí

Minh.

3. Về quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và

Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo

quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản

án được niêm yết.

Cỡ chữ