vanban.org

Bản án 139/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận cho ông Danh Thanh T được ly hôn với bà Thị Kim C.

Về con chung: giao Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021 cho ông Danh Thanh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Kim C có quyền có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Ông bà có quyền làm đơn xin thay đổi quyền n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Danh Thanh T - Thị Kim C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận cho ông Danh Thanh T được ly hôn với bà Thị Kim C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11-5-2026
“V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Hải

Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về “Ly hôn, yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 155/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2026 giữa:

- Nguyên đơn: ông Danh Thanh T, sinh ngày: 18/6/1998 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã V, tỉnh An Giang

- Bị đơn: bà Thị Kim C, sinh ngày 26/4/2000 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2025, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn ông Danh Thanh T như sau:

Năm 2017 ông T và bà Thị Kim C đi làm công nhân trên Đồng Nai nên ông bà gặp nhau và quen biết nhau, hai người tìm hiểu nhau được một năm thì có tình cảm với nhau và quyết định kết hôn với nhau, ông bà có tổ chức đám cưới năm 2018 và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh K ngày 07/8/2019. Ông bà sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu mâu thuẫn nguyên nhân là do bà Kim C không chung thủy thường xuyên nhắn tin với người đàn ông khác nên vợ chồng cãi nhau và bà Kim C đã bỏ đi từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông xác định không thể hàn gắn hôn nhân được nữa vì ông và bà Kim C đã không còn tình cảm với nhau nên ông T quyết định ly hôn với bà Kim C.

Ông T và bà Kim C có hai người con chung tên Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021 do ông T trực tiếp nuôi dưỡng từ khi bà Kim C bỏ đi từ năm 2024 đến nay. Ông T xác định là ông và bà Kim C không có tài sản chung và không có nợ chung.

Tại phiên tòa, ông Danh Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân ông T yêu cầu được ly hôn với bà Thị Kim C. Về con chung ông T yêu cầu nuôi hai người con chung tên Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021; ông T không yêu cầu bà Kim C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông T không trình bày hay yêu cầu gì thêm.

* Đối với bị đơn bà Thị Kim C không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng bà C không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của bà.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp nhận cho ông Danh Thanh T được ly hôn với bà Thị Kim C. Về con chung giao Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung, nợ chung và về cấp dưỡng nuôi con ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: ông Danh Thanh T yêu cầu ly hôn với bà Thị Kim C và ông T yêu cầu nuôi con. Bị đơn là bà Thị Kim C có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp T, xã Đ, tỉnh A nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xác định quan hệ pháp luật “ly hôn, yêu cầu nuôi con” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Thị Kim C với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng bà C vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Năm 2017 ông Danh Thanh T và bà Thị Kim C tự quen biết, tìm hiểu được tthời gian thì ông bà có tình cảm với nhau và ông bà tự nguyện tổ chức đám cưới và ông bà có đăng ký kết hôn tại đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh K số 100/2019 ngày 07/8/2019, cho nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông T là ông có nguyện vọng được ly hôn với bà Kim C lý do bà Kim C không chung thủy thường nên vợ chồng cãi nhau và bà Kim C đã bỏ đi từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông T xác định không thể hàn gắn hôn nhân được nữa vì ông và bà Kim C đã không còn tình cảm với nhau nên ông T quyết định ly hôn với bà Kim C. Tòa án đã tiến hành thông báo mời hòa giải động viên nhằm tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn lại hôn nhân nhưng bà Kim C không có mặt nên không thể tiến hành hoà giải được. Tại phiên toà, ông T và bà Kim C cũng không gặp và ông T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với bà Kim C vì ông T không còn tình cảm yêu thương dành cho bà Kim C. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn ông bà đã không tìm hiểu kỹ tính tình của nhau nên sau thời gian chung sống giữa ông T và bà Kim C phát sinh nhiều vấn đề không hợp nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng và hai người đã tự ly thân từ năm 2024 đến nay, từ đó không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên dẫn đến tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T là phù hợp.

Về con chung: Ông T khai trong quá trình sống chung với bà Kim C, ông bà có hai người con chung tên Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian ông T và bà Kim C ly thân từ năm 2024 đến nay thì ông T là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung vẫn phát triển bình thường về mọi mặt; đồng thời, Danh Thanh D cũng có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với ông T nên Hội đồng xét xử giao Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021 cho ông T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế, đúng với nguyện vọng của con, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: ông T không yêu cầu bà Kim C cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: ông T xác định vợ chồng ông không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Đối với bị đơn bà Thị Kim C, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy bà Kim C có đăng ký thường trú tại ấp T, xã Đ, tỉnh A nhưng bà Kim C vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ Điều 175, Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với bà Kim C theo quy định nhưng bà Kim C vẫn vắng mặt không có lý do và bà Kim C cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông T cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của bà.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: bằng 300.000 đồng, ông T phải nộp do bà có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 175, Điều 177, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: chấp nhận cho ông Danh Thanh T được ly hôn với bà Thị Kim C.

2. Về con chung: giao Danh Thanh D, sinh ngày 31/5/2019 và Danh Thị Ngọc Như Ý, sinh ngày 07/8/2021 cho ông Danh Thanh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Bà Kim C có quyền có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Ông bà có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông Danh Thanh T phải nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0011942 ngày 17/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, ông T đã nộp xong án phí HNST.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 11/5/2026. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ