vanban.org

Bản án 139/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "139 Ngày 08-9-23 Nguyễn Văn N 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2023/HS-ST
Ngày 08 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Khoái

2. Bà Trần Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Củ); sinh năm 1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 233 đường D, Phường D1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 769/28/15 đường H, Phường H1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Siêu Thị S; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. (có mặt)

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1990; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T1, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Số 3 đường M, Phường M1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N (tên gọi khác là Củ) và anh Nguyễn Văn T có mối quan hệ quen biết nhau do trước đây cùng làm thuê cho chị Nguyễn Thị D.

Vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 06/12/2022, N đến trước số 3 đường M, Phường M1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy chị Phạm Thúy N1 cùng ngồi nhậu với anh Phương Trần Quốc A, Nguyễn Thị D, Trần Văn H và Nguyễn Văn T. N ngồi xuống để nhậu chung. Lúc này, D hỏi N “Củ đi đâu đây” thì N trả lời “Nhớ N1 quá”. N1 quay ra nói với N “không nói chơi nha, giỡn ít thôi”. D nói với N “Củ cho mượn bé N1 xíu”. Do N có tình cảm với N1 nên ghen tuông, nghĩ rằng mọi người ở đây đang mai mối cho N1 và T nên N âm thầm bỏ về. Đến khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày, N quay lại mang theo 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 62cm. N lại gần T và dùng hai tay cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống trúng vào cánh tay trái của T gây thương tích rồi N bỏ về nhà tại địa chỉ 769/28/15 đường H, Phường H1, Quận 8.

Anh T được đưa đi cấp cứu, điều trị, đến ngày 13/12/2022, anh T có đơn yêu cầu giám định thương tật và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 30/01/2023, Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh có bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 10/Tgt.23 đối với anh Nguyễn Văn T như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái gây đứt da, đứt cơ tam đầu, mẻ xương cánh tay (ảnh 1) đã được điều trị mở rộng vết thương khâu cơ, da, hiện còn:

+ Một sẹo chém và mổ kích thước 11,5x0,1cm (ảnh 2,3)

+ Hình ảnh mẻ xương trên phim chụp Xquang (ảnh 4).

+ Hình ảnh rách bán phần đầu dưới gân cơ tam đầu kèm phù nề mô mềm trên siêu âm.

+ Tình trạng ổn định.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tì lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 04% (bốn phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự”.

Sau khi có kết luận giám định pháp y, anh Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trước đó, N và T không hề có mâu thuẫn. Con dao N dùng gây án là của người đàn ông tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ). Vào tháng 01/2023, K đến nhà N chơi mang theo con dao tự chế nêu trên, khi ra về thì K bỏ quên con dao này.

Vật chứng trong vụ án:

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 62cm thu giữ của Nguyễn Văn N;

- 01 USB chứa hình ảnh Nguyễn Văn N chém gây thương tích cho anh T.

Về trách nhệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng là chi phí viện phí và điều trị vết thương.

Tại bản Cáo trạng số 130/CT-VKS-Q8 ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích”, theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 62cm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 20 giờ 55 phút, ngày 06/12/2022, tại trước nhà số 03 đường M, Phường M1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Văn N có hành vi dùng dao chém 01 nhát vào cánh tay trái gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên qua giám định là 04% (bốn phần trăm). Mặc dù tỷ lệ tổn thương cơ thể bị cáo gây ra cho bị hại dưới 11 %, nhưng bị cáo sử dụng dao là những vật sắc nhọn làm công cụ phạm tội, do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm”. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước, bị cáo chỉ vì ghen tức vô cớ đã dùng vũ lực gây thương tích cho bị hại, điều này thể hiện sự hung hãn, coi thường pháp luật của bị cáo, do đó hành vi của bị cáo là “có tính chất côn đồ”.

Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cố ý gây thương tích” như sau:

“ 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

…

i) Có tính chất côn đồ.

…”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm về thân thể, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường số tiền 15.000.000 đồng là chi phí viện phí và điều trị vết thương. Xét thấy, đây là thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đối với bị hại, do đó yêu cầu của bị hại là có căn cứ chấp nhận. Đồng thời, tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận mức bồi thường này.

Về xử lý vật chứng:

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 62cm thu giữ của Nguyễn Văn N, xét đây là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 USB chứa hình ảnh Nguyễn Văn N chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T, do anh T giao nộp và không có yêu cầu nhận lại. Xét là dữ liệu điện tử có giá trị chứng minh làm rõ tình tiết vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điều 357, 468, 584 và 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 62cm.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/6/2023)

- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ