vanban.org

Bản án 139/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 02/QĐ-

VKSHN ngày 23/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN và giữ nguyên bản án sơ thẩm: Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2022 về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang T - Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 02/QĐ-
  • Căn cứ chính? Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2023/HS-PT
Ngày: 23-02-2023

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Văn

Ông Trần Đức Hiếu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền

- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố HN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

HN xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 05/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Lê Quang T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 217/2022/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện ĐA, HN.

* Bị cáo bị kháng nghị:

LÊ QUANG T, sinh ngày 02/02/1988 tại TH; ĐKHKTT và nơi cư

trú: thôn Đ, xã CS, thị xã NS, tỉnh TH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang T và bà Cao Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2022, có mặt. C:\Users\Admin\Desktop\New folder\BAPT Lê Quang Tùng 10-02(256).doc

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ 00 phút ngày 14/7/2022, Tổ công tác Công an xã

VH, huyện ĐA, thành phố HN tiến hành kiểm tra hành chính tại khu nhà trọ của bà Cao Thị M, sinh năm 1956 (Trú tại: Thôn DN, xã VH, huyện ĐA, thành phố HN) tại thôn DN, xã VH, huyện ĐA, thành phố HN phát hiện tại phòng trọ số 06 có Lê Quang T cùng các đối tượng Sùng Lao P, sinh năm 1984 (Trú tại: Bản Tung Chung Vang, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu); Giàng A H, sinh năm 1997 (Trú tại: Bản Mù Sang, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu); Vàng A C, sinh năm 1983 (Trú tại: Bản Tung Chung Vang, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra phát hiện tại vị trí nền nhà có 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng kích thước (6,5x3)cm, trên mặt giấy bạc có bám dính 01 cục chất bột màu trắng, T khai là ma tuý loại Heroine. Khám người theo thủ tục hành chính đối với Sùng Lao P, Giàng A H, Vàng A C không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma tuý.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn tạm giữ của Lê Quang T: 01 điện

thoại nhãn hiệu Reami, màu xanh, số Imeil1: 865815051855539, số Imeil2:86581505185521, bên trong lắp sim số thuê bao: 0395184224.

Xét nghiệm ma tuý đối với Lê Quang T, Sùng Lao P, Giàng A H,

Vàng A C đều có kết quả dương tính với chất ma tuý Heroine.

Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa

những người có liên quan về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.

Ngày 22/7/2022, Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội đã có

kết luận giám định số 5090/KLGĐ-PC09, kết luận: 01 cục chất bột màu trắng bám dính trên mặt 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng kích thước (6,5x3)cm là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,014gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Quang T khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút

ngày 14/7/2022, sau khi làm việc xong tại công trình thuộc phường Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm, thành phố HN. Lê Quang T cùng với Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P rủ nhau hút Heroine cho khoẻ người, tất cả đồng ý nhưng do P, H, Cớ không có tiền nên T đã ứng trước 200.000 đồng ra để đi mua ma túy và thống nhất sau này khi có lương P, Hồng và Cớ mỗi người sẽ trả cho T 50.000 đồng. Sau khi bàn bạc thống nhất xong, P và Cớ đi xe buýt về phòng trọ số 6 của T ở thôn DN, xã VH trước còn Hồng đi xe máy chở T đến khu vực đường tàu thuộc Ấp Tó, xã UN, huyện ĐA, thành phố HN gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 200.000 đồng tiền ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, Hồng chở T về phòng trọ của T. Tại phòng trọ cả 04 đối tượng cùng nhau bỏ ra sử dụng số ma túy vừa mua được, còn sót lại một cục nhỏ ma túy Heroine bám dính trên giấy các đối tượng để lại trên nền nhà chưa kịp sử dụng nốt thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Quá trình điều tra xác định, căn phòng trọ số 6 nơi các đối tượng sử

dụng ma túy là căn phòng trọ của bà Mai, cách đây khoảng 01 tháng T và một người bạn tên Hướng (sinh năm 1975, ở Hưng Yên) đến thuê phòng trọ này với giá 350.000 đồng/tháng nhưng anh Hướng chỉ ở 4-5 ngày thì về quê không ở nữa. Từ đó đến nay căn phòng trọ số 6 do T quản lý. Ngày 14/7/2022, T cùng P, Hồng và Cớ cùng sử dụng ma túy tại căn phòng trọ do T quản lý thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện.

Lời khai của bà Cao Thị M chủ nhà trọ phù hợp với lời khai của Lê

Quang T. Việc T cùng các đối tượng P, Hồng và Cớ sử dụng trái phép chất ma túy trong căn phòng trọ T thuê bà Mai không biết.

Tại cơ quan điều tra, P, Hồng và Cớ khai nhận phù hợp với lời khai

của Lê Quang T và phù hợp với tài liệu chứng cứ, sơ đồ hiện trường thu thập được. Việc P, Hồng và Cớ đến phòng trọ của T sử dụng ma túy thì P, Hồng và Cớ không phải trả tiền hay lợi ích nào khác cho T.

Đối với Hồng, Cớ, P có hành vi Tàng trữ trái phép 0,014 gam ma túy

loại Heroine không đủ cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã cho các đối tượng về địa phương, tiếp tục củng cố hồ sơ xử lý sau. Sau đó Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời các đối tượng trên đến Cơ quan điều tra để làm việc nhưng các đối tượng trên đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu chính quyền địa phương không nắm được. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, Cơ quan điều tra có đủ cơ sở xác định Giàng A H, Vàng A C và Sùng Lao P phải chịu trách nhiệm về hành vi Tàng trữ trái phép 0,014 gam ma túy loại Heroine. Căn cứ vào quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; Phòng, chống bạo lực gia đình, ngày 05/10/2022, Công an huyện ĐA đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ba đối tượng trên về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 3.500.000 đồng.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T và Hồng tại khu vực

đường tàu thuộc Ấp Tó, xã UN, huyện ĐA, thành phố HN, Giàng A H và Lê Quang T khai nhận không biết tên tuổi địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ. Đối với người đàn ông tên Hướng, T khai chỉ biết Hướng sinh năm 1975 và quê ở Hưng Yên, ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh nên cơ quan điều tra không làm rõ được nhân thân lai lịch người này.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 217/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của

Tòa án nhân dân huyện ĐA, HN đã quyết định. Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều

38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Quang T 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2022.

- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền

kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN có Quyết

định kháng nghị phúc thẩm số: 02/QĐ-VKSHN ngày 23/12/2022 với nội dung Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 217/2022/HSST ngày 25/11/2022 của TAND huyện ĐA, TP HN, đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo đúng pháp luật và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN khi tóm tắt nội dung

vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN đã giữ nguyên kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

thành phố HN đúng về mặt chủ thể kháng nghị và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Quang T tại phiên

tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, tang vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/7/2022, tại phòng trọ số 06 thuộc quyền quản lý của bị cáo Lê Quang T thuê của bà Cao Thị M ở thôn DN, xã VH, huyện ĐA, thành phố HN, Lê Quang T đã sử dụng trái phép chất ma túy và để cho các đối tượng Sùng Lao P, Giàng A H và Vàng A C cùng sử dụng trái phép chất ma tuý là Heroine. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Quang T chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy cho 03 người nên thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên”. Chính vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo Lê Quang T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN và đề

nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN tại phiên tòa về việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại do hành vi của bị cáo Lê Quang T cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Quang T về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là không đúng tội và bỏ lọt hành vi phạm tội của Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P thì Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Lê Quang T, Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P cùng góp tiền để mua ma túy cùng sử dụng với nhau tại phòng trọ của Lê Quang T; bị cáo Lê Quang T, Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P không tìm, rủ rê, đưa chất ma túy cho người khác sử dụng và trên thực tế không có đối tượng nào cùng sử dụng ma túy với bị cáo Lê Quang T, Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P. Do vậy hành vi của bị cáo Lê Quang T, Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P không cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Quang T dùng nhà trọ do mình quản lý để Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P sử dụng trái phép chất ma túy nên cấu thành tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Lê Quang T về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự và xử phạt hành chính đối với Giàng A H, Vàng A C, Sùng Lao P về hành vi tàng trữ trái phép 0,014 gam ma túy loại Heroin là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do vậy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là không có cơ sở, nên không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN HN và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Cấp sơ thẩm đã thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi

phạm tội của bị cáo trong vụ án; xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để xử phạt bị cáo Lê Quang T 07 năm 06 tháng tù là phù hợp nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng

hình sự,

1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 02/QĐ-

VKSHN ngày 23/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38

Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2022 về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về án phí: bị cáo Lê Quang T không phải nộp án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ