- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa bà Hồng vói ông Khôi"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 139/2023/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 8 năm 2023 V/v tranh chấp:“ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Thật
2. Bà Hồ Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 304/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023, về việc tranh chấp:“Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969
Cư trú: Số C đường L, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (Có đơn yêu cầu vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Đỗ Xuân K, sinh năm 1964
Cư trú: Số C đường L, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có ý kiến trình bày thể hiện nội dung: Bà và ông Đỗ Xuân K tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 1993, cả hai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B theo giấy chứng nhận kết hôn số 18/HT90, quyển số 01 ngày 14/02/1989. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi với nhau trong sinh hoạt hằng ngày. Ông K không chí thú làm ăn mà thường nhậu nhẹt, xúc phạm, mắng chửi và đánh vợ con vô cớ. Giữa vợ chồng không còn tôn trọng, tin tưởng nhau nên từ năm 2014, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên giải quyết:
+ Về hôn nhân: Yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Đỗ Xuân K
+ Về con chung: Có 02 (một) con chung là Đỗ Thị Châu G, sinh ngày 22/4/1995 và Đỗ Hoàng N, sinh ngày 07/10/2001. Hiện 02 con chung đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đồng thời, ngày 17/7/2023, bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt vì công việc nên bà H yêu cầu được xin vắng mặt không tham gia phiên tòa.
* Bị đơn ông Đỗ Xuân K vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; Bị đơn ông Đỗ Xuân K được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không tham dự phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H với ông Đỗ Xuân K theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về quan hệ con chung đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung ông K vắng mặt, bà H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Đỗ Xuân K mặc dù được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông K vẫn không tham dự phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà H là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn với ông Đỗ Xuân K đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Về quan hệ hôn nhân:
Theo đơn khởi kiện, ý kiến trình bày tại các buổi làm việc tại tòa án, bà Nguyễn Thị H có ý kiến về quan hệ hôn nhân giữa bà và ông K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, theo giấy chứng nhận kết hôn số 18/HT90, quyển số 01 ngày 14/02/1989. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến bà H yêu cầu xin ly hôn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi với nhau trong sinh hoạt hằng ngày. Ông K không chí thú làm ăn mà thường nhậu nhẹt, xúc phạm, mắng chửi và đánh vợ con vô cớ, vợ chồng không còn sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Từ năm 2014, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu giải quyết ly hôn với ông K.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù ông Đỗ Xuân K được tống đạt các văn bản nhưng ông K không đến Tòa án cũng như không có ý kiến đối với việc bà H xin ly hôn. Hôn nhân giữa bà H và ông K không còn sự quan tâm, vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau, cũng như không có giải pháp nhằm hàn gắn, duy trì cuộc hôn nhân.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trong cuộc sống hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà H không đồng ý tiếp tục chung sống cùng với ông K, còn ông K không có ý kiến trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H với ông Đỗ Xuân K.
Về con chung: Bà H trình bày và cung cấp giấy khai sinh thể hiện bà H và ông K chung sống với nhau có 02 (hai) con chung là Đỗ Thị Châu G, sinh ngày 22/4/1995 và Đỗ Hoàng N, sinh ngày 07/10/2001, bà H trình bày các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết, ông K không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày tự thỏa thuận, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ông K vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 143; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 232; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Đỗ Xuân K
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H với ông Đỗ Xuân K
Giấy chứng nhận kết hôn số 18/HT90, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 14/02/1989 cho bà Nguyễn Thị H, ông Đỗ Xuân K hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Đỗ Thị Châu G, sinh ngày 22/4/1995 và Đỗ Hoàng N, sinh ngày 07/10/2001 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm:
4.1. Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001803 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 02 tháng 6 năm 2023. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.
4.2. Ông Đỗ Xuân K không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự “ Để thi hành”; - VKSND.TPLX; - TAND.An Giang; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: hồ sơ;VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Ngọc Thúy |