vanban.org

Bản án 139/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùi Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2022/HS-ST
Ngày 23-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hiệu và bà Cầm Thị Đoa.

- Thư ký phiên tòa: B Phan Thị Lệ Giang Thư T a án nh n d n huyện Mộc Ch u tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở T a án nh n d n huyện Mộc Ch u, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 144/2022/TLST-HS ngày 04/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 145/2022/QĐXXST-HS ngày 11/8/2022 đối với:

Bị cáo: Mùi Văn T, sinh ngày: 01/01/1996 tại huyện M tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã T huyện M tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; d n tộc: Mường; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái đo n thể: Không; con ông Mùi Văn N và bà Mùi Thị C; bị cáo có vợ là Mùi Thị T và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ng y 01/6/2022 đến nay.Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ng y 31/5/2022 tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u l m nhiệm vụ tại tiểu hu A thị trấn N huyện M iểm tra đối với Mùi Văn T đang đi bộ trên đường d n sinh. Qua iểm tra phát hiện Mùi Văn T đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon m u v ng bên trong đựng 02 viên nén m u hồng trên bề mặt mỗi viên đều có hiệu WY nghi l Methamphetamine. T khai nhận đó l ma tu Methamphetamine của T cất giấu để sử dụng cho bản th n. Căn cứ h nh vi vi phạm của Mùi Văn T, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ niêm phong vật chứng v dẫn giải Mùi Văn T đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u để điều tra l m rõ.

Ng y 01/6/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u tiến h nh xác định hối lượng 02 niên nén m u hồng của Mùi Văn T được 0 18 gam lấy to n bộ 0 18 gam l m mẫu trưng cầu giám định mẫu có hiệu T.

Tại Kết luận giám định số 942 ngày 02/6/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Mùi Văn T hai nhận: Bản th n có sử dụng chất ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 31/5/2022, T đi nhờ xe máy của người đ n ông hông quen biết đi từ nh ở bản S, xã T đến thị trấn M tìm việc l m thuê. Đến hoảng 21 giờ cùng ngày, T đang đi bộ trên đường d n sinh tiểu hu 19/5 thị trấn Nông Trường Mộc Ch u huyện Mộc Ch u thì gặp v hỏi mua được 01 gói nilon m u v ng bên trong đựng 02 viên Methamphetamine của một người đ n ông hông quen biết với giá 200.000 đồng. Sau hi mua được ma túy T cầm gói ma túy trong l ng b n tay trái đi tìm nơi sử dụng trên đường đi tìm nơi sử dụng thì gặp tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u iểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáo Mùi Văn T trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 02/8/2022 của Viện iểm sát nh n d n huyện Mộc Ch u truy tố bị can Mùi Văn T về tội “T ng trữ trái phép chất ma tu ” theo điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Mộc Ch u giữ nguyên cáo trạng truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùi Văn T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma tu ” v áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Mùi Văn T 18 tháng đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; hoản 1 điểm a c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát h nh c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: Vật chứng thu giữ của: Mùi Văn T, Sn: 1996 bắt ng y 31/5/2022 (vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát h nh c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: test thử ma túy của Mùi Văn T - sn: 1996 q: Dương tính; 01 chiếc phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát h nh. Mặt trước phong bì ghi “vật chứng vụ Mùi Văn T - Cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ng y 31/5/2022 tại thị trấn Nông Trường Mộc Ch u huyện Mộc Ch u tỉnh Sơn La”. Niêm phong hồi 07 giờ 35 phút ng y 02 tháng 6 năm 2022 Tại ph ng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 phong bì niêm phong cũ gửi giám định v chất bột m u hồng thuộc mẫu gửi giám định hiệu T hông sử dụng đến trong quá trình giám định có hối lượng 0 12 gam.

3. Áp dụng điểm đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l v sử dụng án ph v lệ ph T a án. Bị cáo được miễn án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau hi đại diện Viện iểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất tr với cáo trạng v đề nghị của đại diện Viện iểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: H nh vi quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Ch u Điều tra viên Viện iểm sát nh n d n huyện Mộc Ch u Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo hông có iến hiếu nại về h nh vi của cơ quan tiến h nh tố tụng người tiến h nh tố tụng. Do đó các h nh vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên t a bị cáo Mùi Văn T hai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như đã hai tại cơ quan Điều tra số ma túy bị tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u thu giữ của bị cáo v o ng y 31/5/2022 có nguồn gốc mua được của một người đ n ông dân tộc Mông không quen biết với giá 200.000 đồng, mục đ ch sử dụng cho bản th n. Lời hai của bị cáo hông có nội dung gì thay đổi so với lời hai tại cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo hẳng định việc hai báo tại cơ quan điều tra v tại phiên t a ng y hôm nay l ho n to n tự nguyện v đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời hai của bị cáo l ho n to n tự nguyện v phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u lập v o hồi 21 giờ 35 phút ngày 31/5/2022; biên bản niêm phong đồ vật t i liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng hối lượng lấy mẫu giám định niêm phong lại vật chứng đồ vật t i liệu bị tạm giữ; bản ết luận giám định số 942 ngày 02/6/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận:“Mẫu gửi giám định hiệu T l ma túy; loại Methamphetamine; hối lượng của mẫu gửi giám định l 0 18 gam. Tổng hối lượng ma túy thu giữ l 0 18 gam loại Methamphetamine” nằm trong danh mục II số thứ tự 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ng y 15/5/2018 của Ch nh phủ. Lời hai của bị cáo phù hợp với lời hai của người l m chứng trong quá trình điều tra v các t i liệu chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Mùi Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được tác hại của việc t ng trữ sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ng y 31/5/2022 bị cáo Mùi Văn T đã có h nh vi t ng trữ cất giấu trái phép 0,18 gam Methamphetamine nhằm mục đ ch sử dụng cho bản th n. H nh vi của bị cáo đủ yếu tố cấu th nh tội T ng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c hoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: H nh vi của bị cáo Mùi Văn T không vi phạm các tình tiết định hung tăng nặng hác nên chỉ bị xét xử ở điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: H nh vi phạm tội của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp x m phạm đến ch nh sách độc quyền của Nhà nước về quản l các chất ma tu g y ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra v tại phiên t a ng y hôm nay bị cáo có thái độ th nh hẩn hai báo đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo l người có nh n th n xấu, l đối tượng nghiện hút chất ma túy. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe giáo dục v ph ng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội c n có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra v thẩm vấn công hai tại phiên t a hôm nay thấy rằng bị cáo l đối tượng nghiện ma túy sống chung với gia đình hông có t i sản riêng có giá trị nên hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo l phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát h nh c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: Vật chứng thu giữ của: Mùi Văn T, Sn: 1996 bắt ng y 31/5/2022 (vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát h nh c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: test thử ma túy của Mùi Văn T - sn: 1996 q: Dương t nh; 01 chiếc phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát h nh. Mặt trước phong bì ghi “ vật chứng vụ Mùi Văn T - Cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ng y 31/5/2022 tại thị trấn Nông Trường Mộc Ch u huyện Mộc Ch u tỉnh Sơn La. Niêm phong hồi 07 giờ 35 phút ng y 02 tháng 6 năm 2022 Tại ph ng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 phong bì niêm phong cũ gửi giám định v chất bột m u hồng thuộc mẫu gửi giám định hiệu T hông sử dụng đến trong quá trình giám định có hối lượng 0 12 gam. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự v hoản 1, điểm a c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đã bán ma túy cho Mùi Văn T tại tiểu hu A thị trấn N huyện M. Quá trình điều tra hông xác định được lai lịch địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u không có căn cứ để điều tra l m rõ v xử l .

[6] Về án phí: T i liệu hồ sơ xác định bị cáo thuộc dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biết hó hăn v gia đình bị cáo l hộ nghèo tại phiên t a bị cáo xin được miễn nộp tiền án ph do đó bị cáo thuộc trường hợp được xem xét miễn án ph .

Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ng y nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Mùi Văn T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo t nh từ ng y 01/6/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; hoản 1 điểm a c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát h nh c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: Vật chứng thu giữ của: Mùi Văn T, Sn: 1996 bắt ng y 31/5/2022 (vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát h nh c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: test thử ma túy của Mùi Văn T - sn: 1996 q: Dương t nh; 01 chiếc phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát h nh. Mặt trước phong bì ghi “ vật chứng vụ Mùi Văn T - Cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ng y 31/5/2022 tại thị trấn Nông Trường Mộc Ch u huyện Mộc Ch u tỉnh Sơn La. Niêm phong hồi 07 giờ 35 phút ng y 02 tháng 6 năm 2022 Tại ph ng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 phong bì niêm phong cũ gửi giám định v chất bột m u hồng thuộc mẫu gửi giám định hiệu T hông sử dụng đến trong quá trình giám định có hối lượng 0 12 gam.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l v sử dụng án ph v lệ ph T a án bị cáo Mùi Văn T được miễn to n bộ án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền háng cáo trong hạn 15 ng y ể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ