vanban.org

Bản án 139/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo Tô Trần Trung H phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xöû phaït b cáo Tô Trần Trung H mức án: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: T ch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám đ nh; T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Tô Trần Trung H phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2022/HS-ST
Ngày: 07-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguy n Th Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Nguy n Th Kim Chi – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: ng Nguy n Hoàng Linh – Thư ý T a án nh n d n thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 và Quyết đ nh hoãn phiên t a số 186/2022/HSST-QĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022 đối với b cáo:

Tô Trần Trung H, sinh năm 2001, tại Quy Nhơn; Tên gọi hác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ 56 KV10, phường H, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Đ nh; Quốc t ch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Tô Th Ánh L, sinh năm 1978 (c n sống); B cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; B cáo b bắt và b giam giữ từ ngày 31/7/2021, hiện b cáo đang b tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đồng Nai (B5). (B cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của b cáo: Đinh Văn T và Tô Trần Trung H là những người sử dụng trái phép chất ma túy và cả hai sống chung tại nhà số 615/8, hu phố 4, phường B, thành phố B. Trong quá trình mua ma túy sử dụng, T được người bán ma túy ( hông rõ lai l ch) cho số điện thoại 0839393980 để liên hệ mua hi cần sử dụng.

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 30/7/2021, Đinh Văn T dùng điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao 0961521949 (mượn của H) gọi vào số thuê bao 0839393980 hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 1.200.000đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Người bán ma túy yêu cầu T giao tiền trước và sẽ báo thời gian và đ a điểm giao ma túy sau, T đồng ý. Tiếp đó, T đi bộ đến đường Huỳn Văn Nghệ thuộc hu phố 4, phường B, thành phố B gặp một người ( hông rõ lai l ch) và đưa cho người này 1.200.000đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 31/7/2021, khi T đang ở nhà tại đ a điểm nêu trên thì người bán ma túy gọi điện cho T báo đ a điểm giao ma túy tại hu vực ngã tư cầu “Hóa An” thuộc phường B thành phố B. T nhờ Tô Trần Trung H đi lấy ma túy dùm, H đồng ý và dùng điện thoại có số thuê bao 0961521949 liên lạc với người bán. Sau đó H điều hiển xe mô tô 60F1-925.78 đến hu vực ngã tư cầu “Hóa An” thuộc tổ 2, hu phố 1, phường B, thành phố B gặp hai người ( hông rõ nh n th n lai l ch) đi trên một xe ô tô ( hông rõ biển số) giao cho H 01 bao thuốc lá hiệu “555” bên trong có đựng 01 gói nilon chứa chất ma túy.

Vào hoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày, H lấy gói ma túy cất giấu vào túi quần sau bên phải đang mặc và đi về đến chốt iểm d ch trên đường Huỳnh Văn Nghệ thuộc tổ 2, hu phố 1, phường B, thành phố B thì b Công an phường B iểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Đến ngày 01/8/2021, Đ nh Văn T b Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tỉnh Đồng Nai bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, các b cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

+01gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng (H khai là ma túy đá, đã được niêm phong có chữ ý tên của Tô Trần Trung H và hình dấu tr n đỏ của Công an phường B thành phố B).

+01 điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao 0961521949 và số Imei: 353512090539251.

+2.000.000 đ (Hai triệu đồng) hông liên quan đến vụ án.

+01 xe mô tô biển số: 60F1-925.78, số hung: RLHJF4228FY007166, số máy: JF42E07161.

Quá trình điều tra đã làm rõ: 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) là tiền cá nh n của H hông liên quan đến vụ án. Xe mô tô biển số: 60F1-925.78 là tài sản của anh Lê Duy, sinh năm 1973, ngụ tại K2/65, ấp T n Mỹ, phường Bửu Hòa, thành phố B. Anh Duy cho H mượn xe và hông biết H dùng vào việc phạm tôi, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trao trả cho anh Lê Duy.

* Về các vấn đề khác của vụ án: Tại Kết luận g;iám đ nh số 1634/KLGĐ-PC09 ngày 05/8/2021 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã ết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám đ nh là ma túy, có hối lượng 3,2022gam, loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra b cáo đã nhận tội theo như nội dung cáo trạng mô tả và không có ý kiến hay kH nại kết luận giám đ nh nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của b cáo và không có ý kiến về kết luận giám đ nh.

Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKSBH ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Viện iểm sát nh n d n thành phố B đã truy tố b cáo Tô Trần Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c hoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngày 24/3/2022, b cáo Đinh Văn T đã chết tại nhà, theo giấy chứng tử số 51/2022 do Ủy ban nh n d n phường B, thành phố B cấp ngày 24/3/2022. Căn cứ vào các Điều 282, 299 và 326 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử đã ban hành Quyết đ nh đình chỉ vụ án đối với b cáo Đinh Văn T số 370/2022/HSST-QĐ ngày 04/4/2022.

Tại phiên t a, đại diện Viện iểm sát nh n d n thành phố B thống nhất việc T a án đình chỉ vụ án đối với b cáo Đinh Văn T vì đã chết là có căn cứ, đúng quy đ nh pháp luật và đề ngh Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt b cáo Tô Trần Trung H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề ngh T a án nh n d n thành phố B tuyên: T ch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám đ nh; T ch thu sung vào ng n sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei: 353512030539251 b cáo dùng vào việc phạm tội; Trả cho Tô Trần Trung H 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) do không có liên quan đến vụ án.

Đối với các đối tượng hông rõ nh n th n lai l ch đã bán ma túy cho Đinh Văn T và Tô Trần Trung H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0839393980 nhưng đến nay chưa có ết quả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

B cáo nói lời sau cùng: B cáo biết lỗi và rất n hận về hành vi phạm tội của mình, b cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các b cáo, người tham gia tố tụng hác và tại phiên t a không ai có ý iến hoặc H nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy đ nh pháp luật.

Tại phiên t a b cáo Tô Trần Trung H đã hai nhận: Vào hoảng 00 giờ 30 phút ngày 31/7/2021, tại hu vực ngã tư cầu “Hóa An” thuộc tổ 2, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đinh Văn T và Tô Trần Trung H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có hối lượng 3,2022gam loại Methamphetamine thì b Công an phường B phát hiện bắt quả tang. Lời hai nhận của b cáo H là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời hai của người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở ết luận hành vi của b cáo Tô Trần Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c hoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản cáo trạng số 59/CT-VKSBH ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Viện iểm sát nh n d n thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nh n phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác, bản th n b cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy b pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt b cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo, cách ly b cáo ra hỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và ph ng ngừa chung.

Vai tr của b cáo: Trong vụ án này, Đinh Văn T là người rủ rê b cáo H mua ma túy về cùng sử dụng nên xác đ nh T là chủ mưu, tuy nhiên T đã chết nên Hội đồng xét xử hông xem xét mức hình phạt đối với T. B cáo H tham gia với vai tr là đồng phạm, tích cực cùng thực hiện hành vi phạm tội với T nên Hội đồng xét xử sẽ c n nhắc hi lượng hình phạt đối với b cáo H.

Về tình tiết tăng nặng: Không có;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, b cáo H thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải; b cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo hoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì b cáo c n có thể b áp dụng hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời hai tại phiên t a cho thấy b cáo hông có thu nhập và hông có tài sản nào hác. Nên Hội đồng xét xử hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy c n lại sau giám đ nh là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ nên cần t ch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei: 353512030539251 b cáo dùng vào việc phạm tội nên t ch thu sung vào ng n sách nhà nước; Trả cho Tô Trần Trung H 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) do không có liên quan đến vụ án là phù hợp.

Đối với các đối tượng hông rõ nh n th n lai l ch đã bán ma túy cho Đinh Văn T và Tô Trần Trung H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0839393980 nhưng đến nay chưa có ết quả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc b cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố b cáo Tô Trần Trung H phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xöû phaït b cáo Tô Trần Trung H mức án: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: T ch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám đ nh; T ch thu sung vào ng n sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei: 353512030539251 b cáo dùng vào việc phạm tội; Trả cho Tô Trần Trung H 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) do hông có liên quan đến vụ án. (Theo Quyết đ nh chuyển vật chứng số 2577/VKSBH - HS ngày 17/01/2022 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2022 và Biên lai thu tiền số 0002381 ngày 31/3/2022 của Chi cục Thi hành án D n sự thành phố B).

Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc b cáo phải ch u 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

B cáo được quyền háng cáo trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ