- Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Ngọc Tấn - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Ngọc T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 330 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2022/HS-PT Ngày 28/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Năng
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Trọng Danh
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2022/TLHS-PT ngày 7 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Châu Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
Châu Ngọc T - sinh ngày: 01/02/1965, tại Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố B, phường M, thành phố K, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Châu Ngọc T (sinh năm: 1945) và bà Võ Thị Xuân L (sinh năm 1947); có vợ Nguyễn Thị Thu B, sinh năm 1970 và có 01 con sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Châu Ngọc T: Ông Nguyễn Thành Đ, Luật sư Công ty Luật TNHH G; địa chỉ: 574/11 V, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Nguyễn Bá T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/6/2022, Nguyễn Bá T điều khiển xe ô tô gắn BKS 43A-161.357 và anh Đặng Đình S điều khiển xe ô tô gắn BKS. 43A-288.85 đỗ sát lề đường trước quán nhậu A, đường L, phường T, quận L theo chiều xe chạy hướng từ cầu P đến cầu L để nhậu cùng với Châu Ngọc T và hai người khác. Tại vị trí đỗ xe này có đặt biển báo P131.a cấm đỗ xe từ 16 giờ đến 18 giờ. Đến khoảng 16 giờ 50 phút, tổ tuần tra kiểm soát đội Cảnh sát giao thông và Trật tự Công an quận L do Thượng uý Dương Quang T làm tổ trưởng và Đại uý Võ Bá L, Thượng úy Đặng Phước N, Thượng sỹ Nguyễn Văn C là thành viên trong tổ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tuyến đường L, phường T theo kế hoạch công tác số 1138 ngày 19/6/2022 của Trưởng Công an quận Cẩm Lệ. Tại đây, tổ công tác phát hiện 02 xe ô tô trên đậu đỗ sai quy định nên đã thổi còi báo hiệu thì anh Đặng Đình S đi đến tự nhận là lái xe ô tô mang BKS: 43A-288.85 và Nguyễn Bá T đi đến tự nhận là lái xe ô tô mang BKS: 43A-161.87. Thượng úy T yêu cầu T và anh S điều khiển 02 xe ô tô vi phạm sang bên làn đường đối diện để chấm dứt vi phạm và phối hợp làm việc, anh S đã thực hiện theo yêu cầu của tổ công tác còn anh Nguyễn Bá T lấy một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng từ trong ví đưa cho tổ công tác để xin bỏ qua vi phạm của mình nhưng bị từ chối thì T lái xe của mình sang bên kia đường. Tổ công tác di chuyển qua lề đường đối diện và đề nghị T cung cấp giấy tờ liên quan đến xe ô tô; đồng thời tiến hành lập biên bản đối với vi phạm của T. Do bực tức việc xin tổ công tác bỏ qua lỗi vi phạm nhưng không được chấp nhận nên T chửi tục rồi dùng ví tiền của mình đập xuống yên xe công vụ của tổ 2 công tác thì Đại úy L nhắc nhở T: “Đề nghị anh bình tĩnh để làm việc" thì T không chấp hành mà chỉ tay vào mặt Đại uý L chửi tục, lăng mạ đại úy L; rồi tiếp tục quay sang thượng úy T lăng mạ chửi tục. Lúc này, Thượng úy N sử dụng điện thoại cá nhân để ghi nhận lại thái độ, hành vi của T thì T áp sát và chỉ tay vào mặt Thượng úy N nói: “Quay làm chi?” tiếp tục chửi bới, lăng mạ nên Thượng úy N gọi điện báo cho Công an phường Khuê Trung đến làm việc. T thấy vậy, giật điện thoại của Thượng úy N đang ghi hình sự việc nhưng Thượng úy N kịp thời rút tay và chuyển điện thoại sang cho Đại úy L để tiếp tục ghi hình. T đi theo Thượng uý N áp sát người và thách thức: “Ông quýnh tui đi, ông quýnh tui đi”. Sau đó Tín đi qua phía Đại úy L đang quay phim, dùng tay phải giật lấy điện thoại trên tay Đại úy L nhưng không được, T tiếp tục giằng co thì bị tổ công tác can ngăn. Sau khi chửi bới lực lượng chức năng với những lời lẽ thô tục thì T ký vào biên bản chỗ người vi phạm nhưng không chịu ký vào chỗ người nhận biên bản mà tiếp tục chửi bới Thượng úy T. Lúc này, Châu Ngọc T (là bạn của T) không có liên quan đến vụ việc nhưng muốn bệnh vực cho T nên đi tới tổ công tác nói “Đưa biên bản cho công dân đọc" và liên tục đòi lấy biên bản. Khi T hất tay Thượng úy Trí để lấy biên bản nhưng không được nên T chửi: “Mẹ, công an chi viết chữ xấu kinh, tụi bay viết chữ xấu quá”. Thấy T vẫn còn chửi bởi tổ công tác thì T tiếp tục chửi theo. Tiếp đến, Tín giật lấy biên bản từ tay Thượng úy T đưa cho người dân xung quanh đọc nhưng không được ai hưởng ứng. Thượng úy T lấy lại biên bản đọc lại cho T nghe thì T chỉ thẳng tay vào mặt Thượng úy T tiếp tục lãng mạ, xúc phạm Thương úy T rồi đòi lại bằng lái xe. Lúc này, thấy T vẫn liên tục áp sát để gây áp lực tổ công tác nên Đại úy L mời T đi ra bên ngoài để tổ công tác làm việc nhưng T không chấp hành mà thách thức: “Tao ở đây nè, máy làm gì tao, mày làm gì tao". Sau đó, người dân đến can ngăn, đưa T ra ngoài, còn T sau khi không xin được bằng lái xe thì chỉ tay vào tổ công tác đe dọa “Tụi nó đi khỏi đây là không được đấu, là không xong đâu”. Lúc này, để đảm bảo an toàn cho tổ công tác, Thượng úy T đề nghị Đại uý Nguyễn Hữu Minh H và Đại úy Nguyễn Hữu T thuộc Công an phường Khuê Trung đến mới T về Công an phường để làm việc thì T không chấp hành đồng thời tiếp tục chửi bới, xúc phạm, cản trở lực lượng Công an làm nhiệm vụ. Sau nhiều lần mới về Công an phường nhưng T chửi bởi và không chấp hành nên để chấm dứt hành vi vi phạm của T, lực lượng Công an áp giải T đưa lên xe ô tô về Công an phường Khuê Trung để làm việc. Thấy vậy, T chạy đến xe ô tô kéo T lại nhưng không được nên bực tức đi đến nắm cổ áo Thượng úy T kéo đẩy qua lại hỏi tại sao đưa T về Công an phường. Sau đó, T tiếp tục dùng tay nắm cổ áo Đại úy L, tay còn lại tát vào mặt Đại úy L 01 cái rồi la lên “Ông đánh tôi hả, ông đánh tôi hả” nhằm vu oan cho Đại úy L đánh mình và giật đứt cúc áo, đứt dây còi, hất rơi camera của Đại úy L xuống đất, sau đó T vứt còi giật được ra ngoài đường Thăng Long. Thấy hành động sai trái của T, người dân xung quanh đến ngăn cản thì T bỏ đi khỏi hiện trường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt: Châu Ngọc T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Bá Tín, án phí và quyền kháng cáo.
Trong hạn luật định, ngày 31/8/2022, bị cáo Châu Ngọc T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo hoặc cải tại không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Châu Ngọc T là đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số:50/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới là lao động chính, hoàn cảnh khó khăn và gia đình có công với cách mạng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 03 (ba) tháng tù là nhẹ, chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Luật sư, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Châu Ngọc T cũng thừa nhận hành vi đã thực hiện như trên, thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “ Chống người thi hành công vụ” là đúng pháp luật, không oan. Bị cáo chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
- Luật sư Nguyễn Thành Đ bào chữa cho bị cáo Châu Ngọc T không có ý kiến gì về tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư cho rằng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo rất ăn năn, hối cải. Bị cáo bị thất lạc gia đình từ nhỏ, mới tìm được gia tộc họ Đoàn, có cậu ruột và anh ruột là Liệt sỹ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị HĐXX cho bị cáo chuyển từ hình phạt tù giam sang cải tạo không giam giữ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 25/6/2022, Tổ tuần tra, kiểm soát đội Cảnh sát giao thông và Trật tự Công an quận Cẩm Lệ gồm: Thượng úy Dương Quang T làm Tổ trưởng và các thành viên: Đại uý Võ Bá L, Thượng úy Đặng Phước N, Thượng sỹ Nguyễn Văn C, phát hiện Nguyễn Bá T có hành vi đậu đỗ xe không đúng quy định tại trước quán A, đường L, phường T, quận Cẩm Lệ, nên tiến hành lập biên bản và xử lý, nhưng Nguyễn Bá T liên tục có hành vi chửi bới, lăng mạ, xúc phạm, thách thức và đe dọa, gây cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của Tổ công tác trong suốt thời gian hơn 20 phút.
Bị cáo Châu Ngọc T không liên quan đến vi phạm của Nguyễn Bá T nhưng vì muốn bênh vực T nên đã có hành vi chửi bới, miệt thị và có hành động dùng tay nắm cổ áo các thành viên trong tổ công tác là Thượng úy Dương Quang T và Đại úy Võ Bá L; kéo, đẩy, giật đứt cúc áo, hất rơi máy ghi hình, vứt còi và tát vào mặt Đại úy Võ Bá L nhằm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ và không cho Tổ công tác đưa bị cáo T về trụ sở Công an phường Khuê Trung để làm việc.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Châu Ngọc T, HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo T đã cố ý xâm phạm đến việc thi hành công vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông và Trật tự Công an quận Cẩm Lệ, xâm phạm đến hoạt động bình thường của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, nên cần xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Châu Ngọc T 03 (ba) tháng tù là đã có phần xem xét.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có nộp đơn xác nhận là lao động chính, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, bị cáo có nộp đơn trình bày có cậu ruột và anh ruột là Liệt sỹ được gia tộc họ Đoàn xác nhận, nhưng với mức án 03 (ba) tháng tù cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là đã dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của Luật sư về việc cho bị cáo được cải tạo không giam giữ vì chưa đủ sức răn đe và phòng ngừa, giữ nguyên mức hình phạt Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Ngọc T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Châu Ngọc T 03 (ba) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Châu Ngọc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4.Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - VKSND quận Cẩm Lệ; - CQCSĐT Công an quận Cẩm Lệ; - Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Trại giam Hòa Sơn; Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Đỗ Thị Thúy Năng |