- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an B pham toi trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2022/HS-PT Ngày: 30- 8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Như Hiển.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Gia Lương
Bà Trần Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Hoài Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/8/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 208/TLPT-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Hoằng Văn B, do có kháng cáo của bị cáo Hoằng Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HSST ngày 17/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoằng Văn B, sinh năm 1996; tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S (đã chết) và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1975; có vợ: Đặng Thị Y, sinh năm 1997 và 02 con lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự, nhân thân: không
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2022 đến nay hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn bị hại và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoằng Văn B, sinh năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã từng làm công nhân tại Công ty TNHH A thuộc Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến tháng 02/2021 thì nghỉ việc.
Do không có việc làm, bản thân nghiện ma túy, cần tiền mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân, B nảy sinh ý định giả làm công nhân Công ty A trà trộn vào công ty để trộm cắp tài sản của công nhân. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 11/01/2022, B mặc áo công nhân Công ty A (áo do B được phát khi làm việc tại công ty trước đây) đi từ phòng trọ tại thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến Công ty A. Khoảng 20 giờ cùng ngày, B vào trong công ty, đi đến khu vực tủ đồ cá nhân của công nhân thuộc xưởng D02 của Công ty tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Tại đây, B thấy các tủ đồ đều được khóa B khóa có mã số, không có người trông giữ, B dùng tay xoay dò các số trên ổ khóa thì mở được khóa của 05 tủ đồ, trong đó có 01 tủ đồ không có tài sản, 04 tủ đồ có tài sản. B mở tủ đồ số 04, dãy 01 của chị Trần Thị L, sinh năm 1998; trú tại: thôn K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trộm cắp được 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng (không có sim, không cài mật khẩu), có ốp nhựa dẻo màu vàng và 400.000 đồng. Mở tại tủ đồ số 5122 thuộc dãy 01 của anh Hoàng Xuân L, sinh năm 1992; trú tại: thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, trộm cắp được 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A50 màu xanh (không có sim, không cài mật khẩu), 01 ví da màu nâu bên trong có 3.895.000 đồng và các giấy tờ tùy thân gồm: 01 thẻ căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 đăng ký xe mô tô mang tên anh Hoàng Xuân L. Tại tủ đồ số 01 thuộc dãy 02 của anh Nguyễn Viết H, sinh năm 1996; trú tại: thôn Q, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang trộm cắp được 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 màu bạc, phiên bản 128 Gb (không có sim, không cài mật khẩu), 01 ví da màu vàng đỏ, loại cúc bấm, bên trong có số tiền 2.400.000 đồng, 01 thẻ căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Viết H, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Viết T (bố anh H), 01 thẻ ATM ngân hàng MB Bank mang tên Diêm Thị T (mẹ anh H). Tại tủ đồ số 06 thuộc dãy 02 của chị Hoàng Thị C, sinh năm 1998; trú tại: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng trộm cắp được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ (không có sim, không cài mật khẩu). Tổng cộng tài sản B trộm cắp được 04 điện thoại di động, 02 ví, 02 căn cước công dân, 02 giấy phép lái xe mô tô, 01 chứng minh nhân dân, 02 đăng ký xe mô tô, 02 thẻ ATM và số tiền 6.695.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản, B ra khỏi công ty, đi bộ về phòng trọ. Trên đường đi đến khu vực cầu vượt B, huyện V, B lấy hết tiền trong các ví, sau đó ném 02 chiếc ví và toàn bộ giấy tờ trong ví đi (B không nhớ cụ thể vị trí ném). Sau khi về đến phòng trọ, B mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 12L1- 192.28 của anh Đinh Minh H, sinh năm 1998; trú tại: Bản C, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (bạn cùng phòng trọ), một mình điều khiển xe mô tô đến Cửa hàng điện thoại di động “Minh Quân” tại tổ dân phố A, thị trấn N huyện V, tỉnh Bắc Giang do anh Trần Đức T, sinh năm 1983 là chủ cửa hàng. Tại đây, B thỏa thuận cầm cố cho anh T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu xanh với giá 1.500.000 đồng, anh T đồng ý và đưa cho B số tiền 1.500.000 đồng. B cầm tiền điều khiển xe mô tô đến xã N, huyện Y mua của một người thanh niên chỉ biết tên G, khoảng hơn 20 tuổi, cao khoảng 1,55m (B khai không biết rõ họ, tên đệm, năm sinh, địa chỉ) 200.000 đồng ma túy và đã sử dụng hết số ma túy này một mình tại một bãi đất trống thuộc xã N. Sau đó, B điều khiển xe mô tô về trả H. Ngày 12/01/2022, B đi xe khách về quê, khi đi đến cầu L thuộc huyện L, tỉnh Lạng Sơn, B gặp 01 thanh niên khoảng 30 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,70 mét (B khai không biết họ, tên, năm sinh, địa chỉ), B bán cho người này chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 với giá 6.000.000 đồng. Đối với 02 chiếc điện thoại Iphone 8 plus, B giữ lại để sử dụng. Khoảng 17 giờ ngày 18/01/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, B đi đến chợ T, thuộc xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, gặp 01 người phụ nữ (B khai không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua của người này 1.000.000 đồng tiền ma túy Heroin, người này đưa cho B 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa màu đỏ, bên trong có gói giấy dán băng dính đen bên ngoài, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy heroin. B mang số ma túy này về nhà, chia nhỏ ra được 19 gói ma túy nhỏ được gói trong giấy trắng có dòng kẻ, B một mình sử dụng hết 06 gói ma túy, còn 13 gói B để lại, đút vào 01 túi nilong màu trắng đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi mang theo xuống huyện V, tỉnh Bắc Giang với mục đích sử dụng dần. Số tiền trộm cắp được và số tiền có được từ việc bán, cầm cố điện thoại, B đã mua ma túy và chi tiêu cá nhân hết.
Trong các ngày 19/01/2022 và 24/01/2022, anh Nguyễn Viết H, anh Hoàng Xuân L, chị Trần Thị L, chị Hoàng Thị C có đơn trình báo gửi Đồn Công an Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 19/01/2022, biết hành vi của mình bị phát hiện, B đến đồn Công an Q, huyện V đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội, giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng có ốp nhựa dẻo màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ đã trộm cắp. Ngoài ra, B tự khai nhận có mang theo ma túy, tự nguyện giao nộp 01 túi ni lon màu trắng có rãnh khóa nhựa viền đỏ, bên trong chứa 13 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy Heroin, được niêm phong trong phong bì có chữ “ĐT” và số tiền 600.000 đồng.
Ngày 19/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V trưng cầu giám định chất ma túy, khối lượng chất ma túy thu giữ của B.
Tại Kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 24/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “ĐT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 13 (mười ba) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa B nhựa, viền màu đỏ là ma túy, tổng khối lượng 0,598 gam, loại Heroine.
Ngày 25/01/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra sự việc được xác định tại phòng thay đồ của công nhân thuộc xưởng D02 của Công ty A thuộc KCN Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, tiếp giáp về phía Bắc là xưởng D07, phía Nam là khu B, phía Đông là xưởng D01, phía Tây là xưởng D03. Cửa ra vào phía Tây, kích thước (2,2x1,5)m. Từ cửa vào là 05 dãy tủ đựng đồ được sắp xếp theo thứ tự từ Nam sang Bắc, ký hiệu từ 01 đến 05, các dãy tủ cách nhau 1,05 mét. Vị trí các ô tủ bị mất trộm tài sản là: số D02-51-22, số 04 thuộc dãy 01; số 01, 06 thuộc dãy 02. Các ô tủ có kích thước (28x26)cm, sâu 45cm, đều được thay khóa mới. Quá trình khám nghiệm đã cho B chỉ vị trí các ô tủ B đã trộm cắp tài sản.
Ngày 26/01/2022, anh Trần Đức T tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu xanh do B mang đến cầm cố.
Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trị giá 5.500.000 đồng, 01 điện thoại OPPO Reno6 trị giá 8.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 trị giá 2.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ trị giá 5.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 ốp lưng điện thoại di động B nhựa dẻo trị giá 10.000 đồng, 01 chiếc ví da gập, màu vàng đỏ, có cúc bấm trị giá 10.000 đồng; 01 ví da màu nâu loại ví ngang và gập trị giá 30.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Hoằng Văn B trộm cắp là: 21.550.000 đồng
Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HSST ngày 17/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoằng Văn B 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm r, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoằng Văn B 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 03 ( ba) năm tù.
Ngày 02/7/2022 bị cáo Hoằng Văn B kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Hoằng Văn B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình và trình bày: Bán án sơ thẩm xét xử bị cáo như vậy là nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và tự thú. Trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khần khai báo, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo đã tác động nhờ gia đình bồi thường cho người bị hại mặc dù đến nay gia đình đã bồi thường hay không cũng chưa biết. Vì vậy mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người đúng tội và không oan. Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đã cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy:
+ Về tội danh: Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2022, tại khu vực tủ đồ của công nhân thuộc xưởng D02, Công ty TNHH A ICT1 thuộc khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; lợi dụng không có người trông coi, Hoằng Văn B có hành vi trộm cắp của chị Trần Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng có ốp nhựa dẻo màu vàng trị giá 5.510.000 đồng và số tiền 400.000 đồng; trộm cắp của anh Nguyễn Viết H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Reno6 trị giá 8.000.000 đồng, số tiền là 2.400.000 đồng, 01 ví da màu vàng có cúc bấm trị giá 10.000 đồng và các giấy tờ (gồm: 01 thẻ căn cước công dân, 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank, 01 thẻ ATM Ngân hàng MbBank); trộm cắp của anh Hoàng Xuân L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 trị giá 2.500.000 đồng, số tiền 3.895.000 đồng, 01 ví da màu nâu dạng ví gập trị giá 30.000 đồng và các giấy tờ (gồm 01 căn cước công dân, 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 chứng minh nhân dân); trộm cắp của chị Hoàng Thị C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ trị giá 5.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 28.245.000 đồng.
Ngoài ra, khi ra đầu thú ngày 19/01/2022 bị cáo Hoằng Văn B còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,598 gam chất ma túy, loại Heroine, với mục đích để sử dụng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/HSST ngày 17/6/2022 xét xử đối với bị cáo Hoằng Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
+ Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của người khác, xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện. Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân để lượng hình đối với bị cáo, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đã cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cứ và đúng quy định.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoằng Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
2. Căn cứ Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Tội trộm cắp tài sản;
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm r, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Căn cứ Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoằng Văn B 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản; 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 03 ( ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/01/2022.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Hoằng Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an tỉnh Bắc Giang; - STP tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA-VKS-TA-CCTHADS huyện V; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ / Nguyễn Gia Lương Trần Thị Hà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Như Hiển THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Hiển |